Container Icon

Phương pháp phân biệt trầm hương tự nhiên và trầm hương nhân tạo



本发明公开了一种鉴别天然沉香与人工沉香的方法。本发明的鉴别天然沉香与人工沉香的方法,是通过气相色谱-质谱联用(GC-MS)仪测定沉香中的色酮类物质含量与倍半萜类物质含量的比值来完成的。当色酮类物质含量与倍半萜类物质含量的比值小于1时,该沉香可确定为天然沉香;当比值大于1时,认为其为人工沉香,比值越接近1,则人工沉香质量越好。本发明通过提供天然沉香与人工沉香的鉴别方法,将天然沉香及不同质量的人工沉香区分开来,促进沉香市场的有序健康发展,保证广大消费者利益,服务沉香的生产经营企业。

Description

一种鉴别天然沉香与人工沉香的方法
技术领域:
本发明属于生物技术领域,具体涉及一种鉴别天然沉香与人工沉香的方法。
背景技术:
沉香(Aquilaria Resin、Aloeswood、Agarwood或Eaglewood)是具有悠久应用历史的传统名贵药材以及名贵天然香料、木料。沉香入药的历史久远,在中国和日本至少有3000年的历史。《本草纲目》中记载沉香能“治上热下寒,气逆喘急,大肠虚闭,小便气淋,男子精冷”。沉香性辛,微温,无毒,具有行气镇痛、温中止呕、纳气平喘等功效,对于治疗腹胀、胃寒、肾虚、气喘有明显疗效,自古以来,沉香通常被加工成传统中药饮片,目前沉香是160多个中成药的组方原料,《中国基本中成药》中使用沉香的中成药达47种。沉香还是一种在亚洲广受欢迎和广泛应用的传统名贵香料。大多数沉香木在常态下几乎闻不到香味,而在熏烧时则香气浓郁,能覆盖其它气味,而且留香时间甚长,是制造香精油和天然香水的高档香料。沉香是佛教所供奉的七宝之一,象征修行者持戒清静之香,也可以说是解脱者心灵的芳香,被作为佛部的供养香料。沉香产生于瑞香科(Thymelaeaceae)植物中,能够产生沉香的树种约32个,其中沉香属(Aquilaria)25个,拟沉香属(Gyrinops)7个。我国主要以白木香(Aquilaria sinensis(Lour.)Gilg)为主,又名土沉香,为热带及亚热带常绿乔木,是我国产沉香的唯一植物资源,分布于我国的广东、广西、海南、台湾及云南等地,也是广东道地药材“十大广药”之一。
沉香树在自然条件下正常生长,木质白色,较为柔软,没有香气,不产生树脂,在自然界,沉香树因受到虫蚁、伤病等自然损害后会分泌树脂,并浸润、沉积于木质部中,经多年结聚而成,树龄越长,香脂沉积越久,沉香品质越好,这些存在于自然界,并非人为诱导产生的沉香,称之为天然沉香。根据创伤能够刺激沉香树分泌树脂的经验,为了获取更多的沉香,香农采用砍伤法、半断杆法、凿洞法、火烧法等人工的方法来刺激白木香树,一般能够导致结香。目前,通过科学研究发现,利用物理、化学及接种真菌的结香方法均能在钻洞周围产生或多或少的沉香,已有多个专利公开了人工诱导沉香产生的技术方法,如CN 200710110082(栽培的沉香木),CN 201110184345(一种人工诱导白木香产生沉香的方法),CN 201010104119(输液法在白木香树上生产沉香)等。通过这些方法能够获得大量人工沉香。
天然沉香,一般因为积累时间较长,往往品质较好,但产量较少。而人工沉香由于结香时间短,结香方法差异等原因往往品质较天然沉香差,但产量较多,因此市场上出现了以人工沉香冒充天然沉香的现象,给消费者带来了损失。同时人工沉香本身质量参差不齐,目前缺少有效的鉴别手段,市场评级、交易、管理都较为混乱。我们研究发现,天然沉香与人工诱导形成的沉香在成分组成上有明显的区别,而越接近天然沉香的人工沉香品质越好。本专利通过提供天然沉香与人工沉香的鉴别方法,将天然沉香及不同质量的人工沉香区分开来,为沉香市场的有序健康发展,保证广大消费者利益,服务沉香的生产经营企业。
发明内容:
本发明的目的是提供一种鉴别天然条件下形成的天然沉香与经过人工诱导产生的人工沉香的方法,利用本方法将能够将天然沉香及不同质量的人工沉香区分开来。
本发明通过比较天然沉香与人工沉香色酮类物质含量与倍半萜类物质含量的比值情况,发现两者具有明显的不同,天然沉香比值较小,而人工沉香则比值较大。通过上述发现,实现本发明。
本发明的鉴别天然沉香与人工沉香的方法,是通过测定沉香中色酮类物质含量与倍半萜类物质含量的比值判别天然沉香与人工沉香,如通过气相色谱-质谱联用(GC-MS)仪测定沉香中的色酮类物质含量与倍半萜类物质含量(质量百分数)的比值。当色酮类物质含量与倍半萜类物质含量的比值小于1时,该沉香可确定为天然沉香;当比值大于1时,认为其为人工沉香,比值越接近1,则人工沉香质量越好。如不含有这两类成分则为假冒沉香或未结香的样品。本发明提供的鉴别天然沉香与人工沉香的方法,测定沉香中色酮类物质含量与倍半萜类物质含量是由气相色谱-质谱联用(GC-MS)仪进行检测。用于GC-MS检测的样品可利用溶剂三氯甲烷,在室温条件下,对粉碎后的沉香提取24小时获得。
其中,色酮类物质是指以含有2-苯乙基(2-phenylethyl)的色酮衍生物为代表的一系列化合物,包括但不限于13-Docosen-1-ol,(Z)-;6-methoxy-2-(2-phenylethyl)chromone;5,8-dihydroxy-2-(2-phenylethyl)chromone;6-hydroxy-2-(2-phenylethyl)chromone;6,7-dimethoxy-2-[2-(3'-methoxyphenyl)ethyl]chromone;5,8-dihydroxy-2-[2-(4'-methoxyphenyl)ethyl]chromone;Hydrastine;6,7-dimethoxy-2-(2-phenylethyl)chromone。倍半萜类物质是指以倍半萜(分子中含15个碳原子的天然萜类化合物)为代表的一系列化合物,包括但不限于(-)-Spathulenol;Acetate,(2,4a,5,8a-tetramethyl-1,2,3,4,4a,7,8,8a-octahydro-1-naphthalenyl)ester;Farnesol;5,6,6-Trimethyl-5-(3-oxobut-1-enyl)-1-oxaspiro[2.5]octan-4-one;b-Selinenol;Aristolone;Ledene oxide-(I);baimuxinal;Verrucarol;Glaucyl alcohol;Saussurea lactone,dehydro;Velleral;Propanedioic acid,2-[(4-morpholyl)(phenyl)methyl]-,dimethyl ester;4-Benzyloxynitrobenzene。
当GC-MS测定采用Rtx-5MS石英毛细管色谱柱,柱温为230℃时,本发明所述的色酮类物质指保留指数为2400至3400之间的所有化合物;本发明所述的倍半萜类物质指保留指数为1400至2000之间的所有化合物。所述的倍半萜类物质及色酮类物质的代表性化合物在上述色谱条件下的保留指数列于表1。
表1:采用Rtx-5MS石英毛细管色谱柱,柱温为230℃时不同化合物对应的保留指数
Figure BDA0000409504270000041
本发明通过测定沉香中色酮类物质与与倍半萜类物质含量的比值,能够有效的区分天然沉香与人工结香的沉香,同时通过比值的大小可以推断人工结香效果的好坏,为人工沉香的等级划分提供依据,促进沉香市场的有序健康发展,保证广大消费者利益,服务沉香的生产经营企业。
具体实施方式:
以下实施例是对本发明的进一步说明,而不是对本发明的限制。
实施例1:
野外收集天然结香的沉香样品10个,粉碎(过60目筛)。每个样品取0.5g,精密称定,置具塞锥形瓶中,精密加入三氯甲烷10mL,密塞摇匀,称定重量,冷浸24h。提取液于80℃进行水浴上蒸干,获得浸膏,加三氯甲烷使溶解,定量至2mL,用微孔滤膜过滤(0.45μm),取1μL上样。气相色谱-质谱联用仪色谱条件:色谱柱为Rtx-5MS石英毛细管柱;进样口温度230℃;载气为高纯度氦气,流速1.0mL/min,进样量为1μL,1:30分流进样。升温程序:90℃保温4min,2.5℃/min升温至160℃保温5min,0.3℃/min升温至180℃保温5min,2℃/min升温至200℃,1℃/min升温至230℃保温120min。质谱条件为离子源为EI;电离能量70ev;电离电压1977mV,离子温度171℃,溶剂延时4min;质量扫描范围50~550m/z。
通过岛津化学工作站(V2.0),应用Wiley138质谱数据库进行鉴定,并采用峰面积归一化法计算保留指数为2400至3400之间的所有化合物(色酮类物质)与保留指数为1400至2000之间的所有化合物(倍半萜类物质)的含量的比值,结果见表2。
结果显示,天然沉香的色酮类物质与倍半萜类物质的含量的比值在0.290-0.663之间。
表2:天然沉香中的色酮类物质与倍半萜类物质含量的比值
Figure BDA0000409504270000061
实施例2:
取通过甲酸诱导产生的沉香样品10个,色酮类物质与倍半萜类物质含量比值的测定方法同实施例1,结果见表3。
结果显示,甲酸诱导产生沉香的色酮类物质与倍半萜类物质的含量的比值在1.095-8.840之间。
表3:甲酸诱导产生沉香的色酮类物质与倍半萜类物质含量的比值
Figure BDA0000409504270000062
Figure BDA0000409504270000071
实施例3:
取通过菌剂诱导产生的沉香样品10个,色酮类物质与倍半萜类物质含量比值的测定方法同实施例1,结果见表4。
结果显示,菌剂诱导产生沉香的色酮类物质与倍半萜类物质的含量的比值在1.550-10.546之间。
表4:菌剂诱导产生沉香的色酮类物质与倍半萜类物质含量的比值
Figure BDA0000409504270000072

Sáng chế bộc lộ phương pháp phân biệt trầm hương tự nhiên và trầm hương nhân tạo. Phương pháp xác định trầm hương tự nhiên và trầm hương nhân tạo theo sáng chế được thực hiện bằng cách đo tỷ lệ hàm lượng chromone và sesquiterpene trong trầm hương bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ (GC-MS). Khi tỷ lệ giữa hàm lượng chromone và hàm lượng sesquiterpene nhỏ hơn 1 thì trầm hương có thể được xác định là trầm hương tự nhiên, khi tỷ lệ này lớn hơn 1 thì được coi là trầm hương nhân tạo, tỷ lệ càng gần 1 thì chất lượng càng tốt. của trầm hương nhân tạo. Sáng chế phân biệt trầm hương tự nhiên với trầm hương nhân tạo có chất lượng khác nhau bằng cách đưa ra phương pháp nhận biết trầm hương tự nhiên và trầm hương nhân tạo, thúc đẩy thị trường trầm hương phát triển có trật tự và lành mạnh, đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng, phục vụ cho các doanh nghiệp sản xuất và vận hành trầm hương. .

Sự miêu tả

Phương pháp phân biệt trầm hương tự nhiên và trầm hương nhân tạo

Lĩnh vực kỹ thuật:

Sáng chế thuộc lĩnh vực công nghệ sinh học và đặc biệt liên quan đến phương pháp phân biệt trầm hương tự nhiên và trầm hương nhân tạo.

Kỹ thuật nền:

Trầm hương (Aquilaria Resin, Aloeswood, Trầm hương hoặc Eaglewood) là một loại thuốc quý truyền thống có lịch sử ứng dụng lâu đời, cũng như các loại gia vị và gỗ quý tự nhiên. Trầm hương có lịch sử lâu đời trong việc sử dụng làm thuốc, có lịch sử ít nhất 3.000 năm ở Trung Quốc và Nhật Bản. “Bản tóm tắt của Materia Medica” ghi rằng trầm hương có thể “chữa nóng trên và hạ lạnh, đảo ngược khí và khó thở, suy nhược và đóng kín ruột già, tiểu tiện, tiểu tiện và lạnh của nam giới”. Trầm hương có tính cay nồng, tính ấm, không độc, có tác dụng bổ khí, giảm đau, làm ấm trung gian, ngừng nôn mửa, hít khí và giảm hen suyễn… Có tác dụng chữa đầy bụng, lạnh bụng, suy thận và hen suyễn. Từ xa xưa, trầm hương thường được chế biến thành các miếng Thuốc sắc trong y học cổ truyền Trung Quốc, trầm hương hiện là nguyên liệu của hơn 160 loại thuốc độc quyền của Trung Quốc và có 47 loại thuốc sáng chế của Trung Quốc sử dụng trầm hương trong "Trung Quốc". Thuốc sáng chế cơ bản của Trung Quốc". Trầm hương còn là một loại gia vị truyền thống quý giá được ưa chuộng và sử dụng rộng rãi ở Châu Á. Hầu hết trầm hương hầu như không có mùi thơm trong điều kiện bình thường nhưng khi hút lại có mùi thơm nồng, có thể át các mùi khác, hương thơm kéo dài rất lâu, là loại gia vị cao cấp để làm tinh dầu và hương thơm tự nhiên. Trầm hương là một trong bảy báu được tôn thờ trong Phật giáo, tượng trưng cho hương thơm trầm lắng của người tu hành trì giới, đồng thời cũng có thể nói là hương thơm của tâm hồn người đã giải thoát. Trầm hương được sản sinh từ cây Thymelaeaceae và có khoảng 32 loài cây có thể sản xuất trầm hương, trong đó có 25 loài Dó bầu và 7 loài Gyrinops. Ở nước tôi, Aquilaria sinensis (Lour.) Gilg, còn gọi là Aquilaria sinensis (Lour.) Gilg), là một loại cây thường xanh nhiệt đới và cận nhiệt đới, là nguồn thực vật duy nhất của Aquilaria sinensis ở nước tôi, phân bố ở Quảng Đông. , Quảng Tây, Hải Nam, Đài Loan ở Trung Quốc, Vân Nam và các nơi khác, đồng thời cũng là một trong "Mười loại thuốc Quảng Đông" về dược liệu chính hãng ở Quảng Đông.

Cây trầm hương sinh trưởng bình thường trong điều kiện tự nhiên, gỗ có màu trắng, tương đối mềm, không có mùi thơm và không sinh ra nhựa, trong tự nhiên cây trầm hương sẽ tiết ra nhựa sau khi bị côn trùng, kiến, bị thương,… Thẩm thấu và lắng đọng trong chất gỗ.Sau nhiều năm kết tụ, tuổi của cây càng lâu, sự lắng đọng nhựa thơm càng lâu thì chất lượng trầm càng tốt.Những trầm hương tồn tại trong tự nhiên và không được tạo ra nhân tạo được gọi là trầm hương tự nhiên. Theo kinh nghiệm chấn thương có thể kích thích sự tiết nhựa từ cây trầm, để thu được nhiều trầm, Shannon đã sử dụng các phương pháp nhân tạo như chặt, bẻ nửa que, đào hang, đốt để kích thích cây trầm. Hiện nay, qua nghiên cứu khoa học, người ta thấy rằng ít nhiều có thể sản xuất trầm hương xung quanh lỗ khoan bằng cách sử dụng các phương pháp cấy vật lý, hóa học và nấm, và một số bằng sáng chế đã tiết lộ phương pháp kỹ thuật tạo ra trầm hương nhân tạo, chẳng hạn như như CN 200710110082 (trầm hương trồng), CN 201110184345 (phương pháp kích thích nhân tạo trầm hương để tạo trầm hương), CN 201010104119 (phương pháp truyền trầm hương lên cây trầm hương), v.v. Một lượng lớn trầm hương nhân tạo có thể thu được bằng các phương pháp này.

Trầm hương tự nhiên thường do thời gian tích tụ lâu hơn nên thường có chất lượng tốt hơn nhưng sản lượng lại ít hơn. Tuy nhiên, trầm hương nhân tạo có chất lượng kém hơn trầm hương tự nhiên do thời gian đông kết ngắn và sự khác biệt về phương pháp hình thành trầm hương nhưng sản lượng lại cao hơn nên sản phẩm trầm hương nhân tạo được sử dụng làm trầm hương tự nhiên trên thị trường mang lại nhiều lợi ích. thiệt hại cho người tiêu dùng. Đồng thời, bản thân chất lượng trầm hương nhân tạo cũng không đồng đều, hiện nay chưa có phương pháp nhận dạng hiệu quả, việc đánh giá thị trường, giao dịch và quản lý tương đối hỗn loạn. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trầm hương tự nhiên và trầm hương nhân tạo có sự khác biệt đáng kể về thành phần, càng gần giống trầm hương tự nhiên thì chất lượng trầm hương nhân tạo càng tốt. Bằng sáng chế này phân biệt trầm hương tự nhiên với trầm hương nhân tạo có chất lượng khác nhau bằng cách đưa ra phương pháp xác định trầm hương tự nhiên và trầm hương nhân tạo, nhằm đảm bảo thị trường trầm hương phát triển có trật tự và lành mạnh, đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng và phục vụ doanh nghiệp sản xuất, vận hành. của trầm hương.

Nội dung sáng chế:

Mục đích của sáng chế là đưa ra phương pháp phân biệt trầm hương tự nhiên được hình thành trong điều kiện tự nhiên và trầm hương nhân tạo được sản xuất thông qua cảm ứng nhân tạo, bằng cách sử dụng phương pháp này có thể phân biệt được trầm hương tự nhiên và trầm hương nhân tạo có chất lượng khác nhau.

Trong sáng chế, bằng cách so sánh tỷ lệ hàm lượng chromone và hàm lượng sesquiterpene của trầm hương tự nhiên và trầm hương nhân tạo, người ta thấy rằng cả hai có sự khác biệt rõ ràng, tỷ lệ trầm hương tự nhiên nhỏ, trong khi tỷ lệ trầm hương nhân tạo lớn. Sáng chế này đã được thực hiện nhờ những phát hiện trên.

Phương pháp để phân biệt trầm hương tự nhiên và trầm hương nhân tạo theo sáng chế là phân biệt trầm hương tự nhiên và trầm hương nhân tạo bằng cách đo tỷ lệ hàm lượng chromone và sesquiterpenoid trong trầm hương, chẳng hạn như thông qua thiết bị sắc ký khí khối phổ (GC-MS) để xác định. đo tỷ lệ hàm lượng chromone với hàm lượng sesquiterpene (phần trăm khối lượng) trong trầm hương. Khi tỷ lệ giữa hàm lượng chromone và hàm lượng sesquiterpene nhỏ hơn 1 thì trầm hương có thể được xác định là trầm hương tự nhiên, khi tỷ lệ này lớn hơn 1 thì được coi là trầm hương nhân tạo, tỷ lệ càng gần 1 thì chất lượng càng tốt. của trầm hương nhân tạo. Nếu không có hai loại thành phần này thì đó là mẫu trầm giả hoặc nhang không mùi. Trong phương pháp xác định trầm hương tự nhiên và trầm hương nhân tạo do sáng chế đề xuất, hàm lượng chromone và sesquiterpenoid trong trầm hương được xác định bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ (GC-MS). Mẫu được sử dụng để phát hiện GC-MS có thể thu được bằng cách chiết xuất trầm hương nghiền thành bột trong 24 giờ ở nhiệt độ phòng bằng dung môi chloroform.

Trong số đó, chất chromone dùng để chỉ một loạt các hợp chất được biểu thị bằng các dẫn xuất chromone có chứa 2-phenylethyl (2-phenylethyl), bao gồm nhưng không giới hạn ở 13-Docosen-1-ol, (Z)-;6 -methoxy-2-( 2-phenyletyl)crom; 5,8-dihydroxy-2-(2-phenyletyl)crom; 6-hydroxy-2-(2-phenyletyl)cromon; 6,7-dimetoxy-2-[2 -(3'-metoxyphenyl )etyl]cromon; 5,8-dihydroxy-2-[2-(4'-metoxyphenyl)etyl]cromon; Hydrastin; 6,7-dimetoxy-2-(2-phenyletyl)cromon. Sesquiterpenes dùng để chỉ một loạt các hợp chất được đại diện bởi sesquiterpenes (terpenoid tự nhiên có 15 nguyên tử carbon trong phân tử), bao gồm nhưng không giới hạn ở (-)-Spathulenol; Acetate, (2,4a,5 ,8a-tetramethyl-1,2, 3,4,4a,7,8,8a-octahydro-1-naphthalenyl)ester; Farnesol; 5,6,6-Trimetyl-5-(3-oxobut-1-enyl) -1-oxaspiro[2.5]octan- 4-one; b-Selinenol; Aristolone; Ledene oxit-(I); baimuxinal; Verrucarol; Rượu Glaucyl; Saussurea lacton, dehydro; Velleral; )(phenyl)metyl]-, dimetyl este; 4-Benzyloxynitrobenzen.

Khi phép đo GC-MS sử dụng cột sắc ký mao quản thạch anh Rtx-5MS và nhiệt độ cột là 230°C, các nhiễm sắc thể được mô tả trong sáng chế đề cập đến tất cả các hợp chất có chỉ số lưu giữ nằm trong khoảng từ 2400 đến 3400; Terpenoid đề cập đến tất cả các hợp chất với chỉ số duy trì trong khoảng từ 1400 đến 2000. Chỉ số lưu giữ của các hợp chất đại diện của sesquiterpen và chromone trong các điều kiện sắc ký nêu trên được liệt kê trong Bảng 1.

Bảng 1: Sử dụng cột mao quản thạch anh Rtx-5MS, chỉ số lưu giữ tương ứng với các hợp chất khác nhau khi nhiệt độ cột là 230°C

Sáng chế có thể phân biệt hiệu quả trầm hương tự nhiên với trầm hương nhân tạo bằng cách đo tỷ lệ chromone và sesquiterpenoid trong trầm hương, đồng thời có thể suy ra tác dụng của trầm hương nhân tạo thông qua tỷ lệ, đó là việc phân loại trầm hương nhân tạo làm cơ sở để phát huy tác dụng của trầm hương nhân tạo. thị trường trầm hương phát triển có trật tự, lành mạnh, bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng, phục vụ các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trầm hương.

Các cách chi tiết:

Các ví dụ sau đây nhằm minh họa thêm sáng chế, thay vì giới hạn sáng chế.

Ví dụ 1:

Thu 10 mẫu trầm hương tự nhiên trên ruộng và nghiền nát (qua rây 60 lưới). Mỗi mẫu lấy 0,5g, cân chính xác, cho vào bình Erlenmeyer có nút đậy, thêm chính xác 10mL cloroform, lắc chặt, cân và ngâm trong lạnh trong 24 giờ. Dịch chiết được làm bay hơi đến khô trên nồi cách thủy ở 80°C để thu được dịch chiết. Dịch chiết này được hòa tan bằng cách thêm cloroform, định lượng thành 2 mL, lọc qua màng vi xốp (0,45 μm) và lấy 1 μL làm mẫu. Điều kiện sắc ký của phương pháp sắc ký khí khối phổ: cột sắc ký là cột mao quản thạch anh Rtx-5MS; nhiệt độ cổng phun là 230°C; khí mang là helium có độ tinh khiết cao, tốc độ dòng 1,0mL/phút, thể tích tiêm là 1μL, tiêm chia đôi 1:30. Chương trình làm nóng: 90°C trong 4 phút, 2,5°C/phút đến 160°C trong 5 phút, 0,3°C/phút đến 180°C trong 5 phút, 2°C/phút đến 200°C, 1°C/ tối thiểu đến 230°C trong 120 phút. Các điều kiện đo khối phổ là nguồn ion EI; năng lượng ion hóa 70ev; điện áp ion hóa 1977mV, nhiệt độ ion 171°C, độ trễ dung môi 4 phút; phạm vi quét khối lượng 50-550m/z.

Thông qua Máy trạm hóa học Shimadzu (V2.0), cơ sở dữ liệu phổ khối Wiley138 đã được sử dụng để nhận dạng và phương pháp chuẩn hóa diện tích cực đại được sử dụng để tính toán tất cả các hợp chất (chromone) có chỉ số lưu giữ trong khoảng từ 2400 đến 3400 và các hợp chất có chỉ số lưu giữ trong khoảng từ 1400 đến 3400. Tỷ lệ hàm lượng tất cả các hợp chất (sesquiterpenoid) giữa năm 2000, kết quả được thể hiện ở Bảng 2.

Kết quả cho thấy tỷ lệ hàm lượng chromone và sesquiterpenoid trong trầm hương tự nhiên nằm trong khoảng 0,290-0,663.

Bảng 2: Tỷ lệ chromone và sesquiterpenoid trong trầm hương tự nhiên


Ví dụ 2:

Lấy 10 mẫu trầm hương cảm ứng bằng axit formic, phương pháp xác định tỷ lệ hàm lượng chromone và sesquiterpenoid tương tự như ví dụ 1, kết quả được trình bày ở Bảng 3.

Kết quả cho thấy tỷ lệ hàm lượng chromone và sesquiterpenoid do axit formic tạo ra để tạo ra trầm hương nằm trong khoảng 1,095-8,840.

Bảng 3: Tỷ lệ hàm lượng chromone và sesquiterpenoid do axit formic tạo ra để tạo ra trầm hương

Ví dụ 3:

Lấy 10 mẫu trầm hương do vi khuẩn gây ra, phương pháp xác định tỷ lệ hàm lượng chromone và sesquiterpenoid tương tự như ví dụ 1, kết quả được trình bày ở Bảng 4.

Kết quả cho thấy tỷ lệ hàm lượng chromone và sesquiterpenoid do tác nhân vi khuẩn tạo ra để tạo ra trầm hương nằm trong khoảng 1,550-10,546.

Bảng 4: Tỷ lệ hàm lượng chromone và sesquiterpenoid do tác nhân vi khuẩn tạo ra trầm hương






  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

0 nhận xét:

Đăng nhận xét