Container Icon

Các bệnh của tôm


1. HOẠI TỬ GAN TỤY CẤP AHPND VÀ CHẾT SỚM EMS

‘’Bệnh hoại tử gan tụy cấp’’ AHPND (Acute Hepatopancreatic Necrosis Disease) ban đầu được gọi là ‘’Hội chứng chết sớm EMS’’ (Early Mortality Syndrome) bởi tôm có thể bị chết sớm từ 10 ngày sau khi thả tôm và trong giai đoạn 35 ngày thả.  Tuy nhiên việc gắn 2 khái niệm này thành 1 là không chính xác, gây các nhầm lẫn trong phương án điều trị và xử lý cho bà con nuôi tôm. Bởi ngoài AHPND, thì các mầm bệnh khác và một số yếu tố môi trường cũng gây chết sớm EMS.

Trong bài viết này, sẽ giúp bà con làm rõ vấn đề của bệnh AHPND, các tác nhân khác có thể gây EMS, các yếu tố dẫn đến AHPND cũng như EMS, qua đó giúp bà con tìm thấy phương án phòng ngừa và xử lý hiệu quả ao tôm của mình trước bệnh AHPND và hội chứng EMS.

AHPND ghi nhận đầu tiên năm 2009 tại Trung Quốc và lây sang Việt Nam năm 2010 trên cả 2 đối tượng tôm thẻ và tôm sú. Từ đó đến nay AHPND gây thiệt hại nghiêm trọng về mặt sản lượng và hiệu quả kinh tế của bà con nuôi tôm nói riêng, ngành tôm Việt Nam nói chung.

Hình 1: Dấu hiệu tôm bị AHPNS, dạ dày trống rỗng, gan tụy teo nhợt nhạt và rỗng ruột

Hình 1: Dấu hiệu tôm bị AHPNS, dạ dày trống rỗng, gan tụy teo nhợt nhạt và rỗng ruột

Biểu hiện lâm sàng

Tôm bị AHPND giai đoạn đầu thường có biểu hiện vỏ mềm, bơi lờ đờ, rỗng ruột hoặc bị đứt đoạn, dạ dày không có thức ăn, gan tụy có màu từ nhạt đến trắng, có thể bị teo gan, giảm kích thước gan > 50%, tôm rớt đáy nhiều. Giai đoạn cuối của bệnh, các vết hoặc đốm đen do lắng đọng Melanin từ hoạt động của tế bào máu xuất hiện trong gan tụy. Khi đó tỷ lệ chết có thể lên đến trên 40%, thậm chí là chết hàng loạt 100%.

Biểu hiện trên mô bệnh học

Hình 2. Hình thái nguyên vẹn của các tế bào B, F và R trong các thùy gan tụy (A và B). Thay đổi mô học trong gan tụy của tôm bị ảnh hưởng bởi AHPND (C và D). Các khuyết tật gan tụy cho thấy các tế bào B, F và R bị bong tróc (C). Thâm nhiễm bạch cầu (D)

Hình 2. Hình thái nguyên vẹn của các tế bào B, F và R trong các thùy gan tụy (A và B). Thay đổi mô học trong gan tụy của tôm bị ảnh hưởng bởi AHPND (C và D). Các khuyết tật gan tụy cho thấy các tế bào B, F và R bị bong tróc (C). Thâm nhiễm bạch cầu (D)

Tác nhân gây bệnh AHPND

Tác nhân gây bệnh được xác định là do nhiễm vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus (VpAHPND), chứa một plasmid (pVA1) khoảng 70 kbp với các gen mã hóa của độc tố PirAvp và PirBvp. Trước khi xác định được tác nhân gây bệnh này, AHPND có tên gọi là AHPNS (Hội chứng gan tụy cấp- Acute Hepatopancreatic Necrosis Syndrome).

VpAHPND ban đầu đi vào dạ dày và sản sinh ra độc tố PirABvp trước, sau đó vào đến gan tụy nó lại sản sinh độc tố PirBvp gây bong tróc các tế bào biểu mô gan tụy, giai đoạn sau đó xuất hiện cả 2 loại độc tố này trong dạ dày cũng như ở gan tụy tôm. Điều đặc biệt quan tâm là các chủng V. parahaemolyticus độc lực và

 

không độc lực đều kháng nhiều loại kháng sinh, cho thấy rằng việc sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm cần được quản lý chặt chẽ hơn và nên có các biện pháp phòng ngừa, cạnh tranh sinh học thay thế.

Các tác nhân khác có thể làm tôm chết sớm EMS

Các bệnh khác cũng có thể làm tôm chết sớm như WSSV- đốm trắng, YHV - đầu vàng hay CMNV - virut Covert (trong 1 bài viết khác RD AmBio sẽ cung cấp chi tiết cho quý bà con về các bệnh này)… tuy nhiên biểu hiện lâm sàng có nhiều điểm khác biệt, nên dễ dàng phân biệt với AHPND. Tuy nhiên có nhiều trường hợp bội nhiễm, tôm bị chết bởi nhiều nguyên nhân đồng thời xảy ra. Điều quan trọng ở đây là bà con cần xét nghiệm tôm giống và nguồn nước ao nuôi trước khi thả để loại bỏ các nguy cơ gây bệnh từ khi thả tôm.

Ngoài ra các yếu tố hóa học trong môi trường nước như tảo độc, NO2, NH3, hóa chất dư thừa … đều có thể gây ra các dấu hiệu lâm sàng trên tôm giống như tôm bị gan tụy cấp.

Các yếu tố khác làm tôm suy yếu và thúc đẩy bệnh bùng phát như:

  • Nguồn nước độ mặn < 20 ‰ có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn nguồn nước có độ mặn cao
  • Cho ăn quá nhiều; chất lượng thức ăn kém; chất lượng nước kém; hàm lượng oxy hòa tan thấp
  • Chất lượng giống kém, chứa sẵn mầm bệnh…
  • Hạ tầng ao, nền đáy ao, bạt lót cũ, chất lượng giảm do nuôi nhiều vụ
  • Biến động môi trường mạnh, sốc thời tiết…

Cách phòng ngừa

  • Sàng lọc, lựa chọn nguồn tôm giống chất lượng, test âm tính với các mầm bệnh.
  • Chuẩn bị tốt hạ tầng ao nuôi, phơi nền đáy ao, sát trùng ao, nguồn cấp nước nuôi…

Đưa vào nước ao nuôi ngay từ trước khi thả tôm cũng như trong xuyên suốt quá trình nuôi tôm 1 lượng lớn hệ vi sinh vật có lợi, ức chế cạnh tranh trực tiếp với Vibrio parahaemolyticusgiúp ngăn ngừa sự bùng phát của Vibrio parahaemolyticus cũng như các khuẩn có hại khác trong ao nuôi.


  • Hạn chế tối đa việc dùng chất diệt khuẩn, kháng sinh trong quá trình nuôi, bởi nếu không kiểm soát tốt, không những làm tôm yếu hơn, mà còn làm bệnh tôm nghiêm trọng hơn do hóa chất và kháng sinh không đúng loại, không đủ liều không làm chết Vibrio gây hại, mà còn làm chết hệ vi sinh có lợi, tạo điều kiện khuẩn độc bùng phát mạnh hơn.
  • Bà con nên thường xuyên dùng các sản phẩm vi sinh khác để ổn định và cân bằng sinh thái nước ao nuôi, sạch bạt, sạch nước hoặc sạch đáy ao (với ao đất) để tạo môi trường sạch, thuận lợi cho tôm phát triển, cũng như hạn chế các mỗi nguy tiềm ẩn làm bùng phát dịch bệnh.

Cùng với việc lựa chọn thức ăn chất lượng, cho ăn không dư thừa thì việc phối trộn cùng thức ăn với các sản phẩm cung cấp vi sinh vật đường ruột có lợi, tăng hấp thụ, ức chế khuẩn gây hại đường ruột; tăng cường chức năng gan, kích thích bắt mồi; thúc đẩy sinh trưởng, chống stress và bổ sung đầy đủ vitamin, khoáng chất cho tôm sẽ giúp tôm phát triển tốt cũng như phòng ngừa được các tác nhân gây hại khác.

Cách xử lý, điều trị khi tôm có dấu hiệu EMS hoặc AHPND

  • Việc đầu tiên cần phải làm là xác định nguyên nhân làm rớt tôm, nguyên nhân làm tôm rỗng ruột, bỏ ăn, gan tụy bị viêm, mờ hoặc teo… để có quyết định và cách xử lý đúng đắn.
  • Tăng cường xi phông để loại bỏ tôm yếu, tôm bệnh, tránh ăn lẫn nhau gây nhiễm chéo.
  • Tăng cường quạt hoặc oxy đáy để tăng oxy hòa tan trong ao
  • Ổn định lại các chỉ số hóa lý trong ao nuôi nếu chưa đạt.
  • Nếu nguyên nhân gây tôm chết sớm EMS là do các yếu tố virut như: WSSV, YHV… đề cập phía trên thì bà con nên thu tôm, diệt khuẩn ao, xử lý lại ao, phơi ao… để tránh lây nhiễm cho các ao khác và vụ sau.
  • Nếu khí độc cao, tảo độc bùng phát hoặc biến động thời tiết bà con phải giảm hoặc ngừng ăn rồi tiến hành cắt tảo, hạ khí độc hoặc tiến hành các biện pháp chống sốc, thúc đẩy tôm hồi phục .
  • Giảm ăn 50% trong giai đoạn này và sử dụng các sản phẩm vi sinh hỗ trợ khác  để ổn định chất lượng nước và hệ sinh thái ao nuôi.
  • Do giai đoạn này tôm yếu, kém ăn và gan tụy kém nên việc dùng tăng liều giúp tôm kích thích bắt mồi, bổ dưỡng và phục hồi tế bào gan tụy; tăng khả năng hấp thụ, tăng cường chức năng tiêu hóa; tăng lực, chống stress, thúc đẩy sinh trưởng… là điều rất quan trọng để giúp tôm khỏe hơn và vượt qua giai đoạn bệnh.

2. Bệnh đốm trắng (WSSV)

Bệnh virus đốm trắng

White spot syndrome virus

Nguyên nhân

Trước năm 2002, có 3 chủng Baculovirus gây bệnh đốm trắng hoặc còn gọi là virus Trung Quốc. Tùy từng nước nghiên cứu chúng có tên gọi và kích thước như sau:
Tên virus Kích thước virus Kích thước nhân

  • Virus Trung Quốc (HHNBV) 120 x 360 nm
  • Virus tôm Nhật 1(RVPJ-1) 84 x 226 nm
  • Virus tôm Nhật 2 (RV-PJ-2) 83 x 275 nm 54 x 216 nm
  • Virus bệnh đốm trắng Thái lan (SEMBV) 121 x 276 nm 89 x 201 nm
  • Virus bệnh đốm trắng (WSBV) 70-150x350-380nm 58-67x330-350nm

Hội nghị virus học quốc tế lần thứ 12 (Paris, 2002) các tác giả: Just M. Vlak, Jean-Robert Bonami, Tim W. Flegel, Guang-Hsiung Kou, Donald V. Lightner, Chu-Fang Lo, Philip C. Loh and Peter J. Walker đã phân loại virus gây hội chứng đốm trắng là một giống mới Whispovirus thuộc họ mới Nimaviridae
- Virus dạng hình trứng, kích thước 120x275nm, có một đuôi phụ ở một đầu, kích thước 70x300nm.
- Virus có ít nhất 5 lớp protein, trong lượng phân tử từ 15- 28 kilodalton. Vỏ bao có hai lớp protein VP28 và VP19; Nucleocapsid có 3 lớp VP26, VP24, VP15
- Nhân cấu trúc dsADN: Không có thể ẩn (Occlusion body).
- Khi tôm xuất hiện các đốm trắng, quan sát thấy rất nhiều các thể vuì (inclusion body). ở trong nhân của tế bào mang, biểu bì ruột, dạ dày và tế bào biểu bì dưới vỏ, cơ quan lympho,các nhân hoại tử và sưng to.
-Khi môi trường nuôi tôm xấu bệnh dễ xuất hiện.

Triệu chứng

Dấu hiệu đặc trừng của bệnh có những đốm trắng ở dừới vỏ. Những đốm trắng thừờng có đừờng kính từ 0,5-2,0 mm.

- Thừờng liên quan đến sự xuất hiện của bệnh đỏ thân.

- Những dấu hiệu khác: Đầu tiên thấy tôm ở tầng mặt và dạt vào bờ, bỏ ăn, hoạt động kém, các phần phụ bị tổn thừơng, nắp mang phồng lên và vỏ có nhiều sinh vật bám.

- Khi có dấu hiệu sức khoẻ tôm yếu, đồng thời các đốm trắng xuất hiện, tỷ lệ tôm phát bệnh trong vòng từ 3-10 ngày lên đến 100% và tôm chết hầu hết trong ao nuôi.

Tôm bệnh đốm trắng

Tôm bệnh đốm trắng

Dấu hiệu tôm bênh đốm trắng

Đầu tôm bệnh đốm trắng

Phân bố

Bệnh đốm trắng được thông báo đầu tiên ở Trung Quốc trong các đầm nuôi tôm sú nuôi tỷ lệ chết rất cao (Chen, 1989). ở Thái lan các trại tôm ở vùng Samut Sakhorn năm 1989 đã có báo cáo bệnh đỏ thân ở tôm sú. Năm 1992 - 1993 ở Thái Lan, tôm nuôi đã bị bệnh đầu vàng và đốm trắng thiệt hại hơn 40 triệu đôla (Flegel T.W, 1996). Năm 1993 Nhật Bản nhập tôm của Trung Quốc về nuôi đã xuất hiện bệnh đốm trắng. Năm 1994 đã có các báo cáo từ ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản và Thái Lan tìm ra nguyên nhân gây bệnh đốm trắng.

Nguyên nhân gây bệnh đốm trắng

Sơ đồ nguyên nhân gây bệnh đốm trắng.

Hiện tượng tôm bệnh thường xảy ra ở tôm giống đến tôm trưởng thành, của các khu vực nuôi thâm canh và quảng canh. Khi môi trường nuôi tôm xấu bệnh dễ xuất hiện. Bệnh đốm trắng xuất hiện ở nhiều động vật giáp xác tự nhiên, như các loài tôm he, tôm nước ngọt, cua, tôm hùm, chân chèo vμ ấu trùng côn trùng (xem bảng 14) do đó bệnh lây lan rất nhanh chóng trong các đầm nuôi tôm.

Bệnh đốm trắng lây truyền qua đường nằm ngang là chính. Virus lây từ các giáp xác khác (tôm cua, chân chèo) nhiễm bệnh đốm trắng từ môi trường bên ngoài ao hoặc ngay trong ao nuôi tôm. Khi các loài tôm bị bệnh đốm trắng trong ao sức khoẻ chúng yếu hoặc chết các con tôm khoẻ đã ăn chúng dẫn đến bệnh lây lan càng nhanh hơn. Có thể một số loài chim nước đã ăn tôm bị bệnh đốm trắng từ ao khác và bay đến ao nuôi đã mang theo các mẩu thừa rơi vào ao nuôi. Bệnh đốm trắng không có khả năng lây truyền qua đường thẳng đứng vì các noãn bào (trứng) phát hiện chúng nhiễm virus đốm trắng thì chúng không chín (thành thục) được. Nhưng trong quá trình đẻ trứng của tôm mẹ có thể thải ra các virus đốm trắng từ trong buồng trứng của chúng, do đó ấu trùng tôm dễ dàng nhiễm virus ngay từ giai đoạn sớm.

Trong những năm gần đây bệnh đốm trắng thường xuyên xuất hiện trong các khu vực nuôi tôm ven biển ở Việt Nam, hầu hết các tỉnh khi bị nhiễm bệnh đốm trắng đã làm tôm chết hàng loạt và gây tổn thất lớn cho nghề nuôi tôm. Mùa xuất hiện bệnh là mùa xuân và đầu hè khi thời tiết biến đổi nhiều như biên độ nhiệt độ trong ngày biến thiên quá lớn (> 50C) gây sốc cho tôm. Bệnh đốm trắng thường gây chết tôm rảo, tôm nương, cua, ghẹ, sau đó tôm sú nuôi khoảng 1-2 tháng bệnh đốm trắng xuất hiện và gây chết tôm. Năm 2001, Bùi Quang Tề và cộng sự đã điều tra 483 hộ nuôi tôm sú thuộc 23 huyện của 8 tỉnh ven biển phía Bắc (Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh) có 166 hộ (34,37%) đã mang mầm bệnh đốm trắng ở tôm nuôi và tôm cua tự nhiên và có 169 hộ (34,99%) bệnh đốm trắng đã gây tôm chết. Tôm sú nuôi sau 1-2 tháng bệnh đốm trắng xuất hiện và gây tôm chết hàng loạt.

Phòng trị

Chọn tôm bố mẹ có chất lượng tốt (chiều dài từ 26-30cm, đánh ở độ sâu 60-120m) không nhiễm WSSV.

- Không vận chuyển tôm giống mật độ cao.

- Thức ăn tươi sống không hư thối và dùng nhiệt nấu chín.

- Hàng tháng cho tôm ăn Vitamin C từ 1-2 đợt với liều 2-3 g/1 kg thức ăn cơ bản, mỗi đợt cho tôm ăn một tuần liên lục.

- Nguồn nước cấp cho ao nuôi tôm phải lắng lọc và khử trùng.

- Vớt tôm chết ra khỏi ao

- Ngăn chặn không cho tôm và giáp xác khác vào ao nuôi.

- Nước ao nuôi tôm bị bệnh đốm trắng phải xử lý bằng Chlorua vôi nồng độ cao (30-50g/m3), không được xả ra ngoài. Khi phát hiện bệnh, tốt nhất là thu hoạch ngay.

3. BỆNH ĐẦU VÀNG TRÊN TÔM

Cùng với Bệnh đốm trắng, Bệnh đầu vàng xuất hiện trên tôm sú, tôm thẻ chân trắng. Ở Việt Nam, tôm nhiễm bệnh đầu vàng nhiều lúc thời tiết thay đổi lúc giao mùa, ở những vùng nuôi ven biển độ mặn cao.

- Tác nhân gây bệnh (YHCV): Virus hình que, cấu trúc di truyền là RNA, gồm có:
Yellow head virus (YHV): Tôm biến màu vàng nhạt ở phần carapace và mang.
- Gill- Associated Virus (GAV): tôm bị biến đỏ ở đuôi, phần đầu ngực và mang biến màu từ hồng đến vàng
Lymphoid Organ Virus (LOV): hiện diện trong tế bào máu của tôm

Phân bố bệnh:
- Bệnh bộc phát trên tôm nuôi từ 30 ngày tuổi trở lên
- Chỉ nhiễm giới hạn trên các loài tôm He
Triệu chứng:
-          Tôm bị bệnh thì ăn  thức ăn tăng lên đột biến trong một vài ngày, sau đó một số lớn tôm trong ao ngưng ăn
-          Ngày thứ nhất, một số con lờ đờ hôn mê bơi lên tầng mặt gần bờ ao. Tôm có phần đầu ngực màu vàng.
-          Ngày thứ hai số tôm bị bệnh tăng lên, những ngày tiếp theo số lượng tôm chết tăng lên và tỉ lệ chết có thể tăng đến 100% sau từ 7-10 ngày.
-          Tôm hôn mê có màu sắc nhợt nhạt, giáp đầu ngực phồng lên và có màu vàng. Mang tôm bệnh có màu trắng, vàng nhạt hay nâu gan có màu vàng nhợt.

                                         

                                                   Hình ảnh tôm bị bệnh đầu vàng( 2 con phía trên).

Phương pháp chẩn đoán bệnh:

- Nhận biết triệu chứng bệnh.

- Nhuộm màu mô bào, tế bào máu nhận thấy nhân tế bào bị thoái hóa đông đặc.

- Phân tích PCR.

Nguyên nhân:

- Bệnh do virus YHV (yellow head virus) là virus có acid nhân RNA chuỗi đơn, hình que, kích thước 44 x 173 nm, thuộc loài Nidovirales, họ Ronaviridae, chi Okavirus.

Lây truyền bệnh:

- Bệnh đầu vàng ở tôm chủ yếu lây truyền theo hàng ngang, do có vật chủ trung gian mang mầm bệnh vào môi trường nước.

Phòng và trị bệnh:

- Do virut chưa có thuốc hoặc chất hoá học nào để xử lý điều trị bệnh có kết quả, vì vậy chỉ có thể phòng bệnh và sự lây lan của dịch bệnh này bằng cách dùng giống sạch bệnh; Quản lý tốt màu nước ao và môi trường xung quanh cho phù hợp.

- Đặc biệt ta lưu ý việc Xử lý các chất thải trong ao đầm nuôi tôm và việc tăng cường sức khỏe, sức đề kháng cho tôm để chịu đựng được sự thay đổi của môi trường xung quanh. Không để chất lượng nước thay đổi thường xuyên. Chẳng hạn sự thay đổi độ pH trong ngày hoặc tình trạng phát triển của rong rêu.


Bệnh phân trắng (WFD/WFS)

   Ngành công nghiệp nuôi tôm trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang phát triển rất nhanh chóng. Cùng với việc mở rộng qui mô sản xuất, mức độ thâm canh hoá ngày càng cao đã dẫn đến sự xuất hiện ngày càng nhiều mầm bệnh nguy hiểm đe dọa đến sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp nuôi tôm và gây thiệt hại nghiêm trọng về mặt kinh tế.
Sau đây sieuthitomgiong cung cấp quý bà con những thông tin cơ bản nhất về tác nhân gây bệnh 
Bệnh phân trắng (WFD/WFS), chẩn đoán nhanh thông qua hình ảnh trực quan nhằm giúp người nuôi tôm có thể xác định nhanh tình trạng nhiễm bệnh của tôm để có hướng kịp thời xử lý và một số giải pháp chung để phòng tránh các loại bệnh phổ biến nhất trên tôm hiện nay.


            Nguyên nhân tôm bị bệnh phân trắng : Hiện chưa xác định được chính xác nguyên nhân, có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng tôm bệnh phân trắng do nhóm vi khuẩn Vibrio, cũng có những nghiên cứu khác cho rằng nguyên nhân do trùng hai tế bào (Gregarine) hoặc nhóm ký sinh trùng có tên Vermiform. Một vài nghiên cứu cho thấy tôm nhiễm bệnh có sự hiện diện của nhiều loại mầm bệnh khác nhau như vi khuẩn (nhóm Vibrio), ký sinh trùng (Vermiform, trùng hai tế bào – Gregarine), virus.


     Chẩn đoán khi tôm bị bệnh phân trắng: Tôm bệnh thải ra phân trắng, thỉnh thoảng sợi phân tôm cũng có màu vàng nhạt, gan tụy teo hay mềm nhũn, tôm bệnh phân trắng thường kèm theo triệu chứng mềm vỏ hay vỏ lỏng lẻo. Một vài ngày sau khi nhiễm bệnh, tôm sẽ yếu và bơi lội lờ đờ trên mặt nước, tôm yếu dần và chết. Nên tiến hành các xét nghiệm đơn giản nhằm xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh để có hướng xử lý thích hợp. Việc đầu tiên và đơn giản nhất là kiểm tra ký sinh trùng trong ruột tôm bằng cách cắt một đoạn ruột tôm và soi dưới kính hiển vi quang học xem có nhiễm ký sinh trùng hay không. Nếu tôm không nhiễm ký sinh trùng, tiến hành kiểm tra tổng vi khuẩn Vibrio trong môi trường ao nuôi, nếu mật số Vibrio quá cao, có thể nguyên nhân do vi khuẩn Vibrio.

Hình 14: Dấu hiệu lâm sàng của WFS. (a) Sợi phân trắng nổi trên mặt nước; (b) Sợi phân trắng trên sàng ăn; (c) Tôm nhiễm bệnh ruột có màu trắng; (d) Tôm nhiễm bệnh ruột có màu vàng nâu; (e) Ảnh chụp hiển vi bên trong của sợi phân.

Hình 15: Mẫu nhuộm tươi của mô gan tụy tôm quan sát dưới kính hiển vi quang học. (a) Ảnh hiển vi độ phóng đại thấp cho thấy có 3 con vermiform trong tế bào ống gan tụy tôm; (b) Ảnh hiển vi độ phóng đại cao cho thấy một con vermiform có các cấu trúc giống bào tử, nhưng thực ra đó là các tế bào B bị bong tróc và tồn tại độc lập; (c) Ảnh hiển vi độ phóng đại cao của ký sinh trùng nhuộm bởi dung dịch Rose Bengal cho thấy rõ các cấu trúc bên trong màng tế bào.

bệnh tôm bị phân trắng

Hình 16: Mẫu mô gan tụy tôm nhuộm bằng H&E cho thấy rõ hình thái của vermiform và cấu trúc giống bào tử.

tôm bị bệnh phân trắng

Hình 17: Trùng hai tế bào phân lập được trong ruột của tôm bệnh phân trắng.

    Phòng trị bệnh phân trắng trên tôm : Áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp do có nhiều tác nhân gây bệnh phân trắng. Theo khuyến cáo của các chuyên gia Thái Lan là người nuôi tôm nên giảm mật độ nuôi trong mùa nắng nóng. Điều này làm giảm hàm lượng vật chất hữu cơ ở nền đáy ao và làm giảm sự phát triển của vi khuẩn Vibrio spp. Bên cạnh đó, một số nhà nuôi tôm đã thành công trong việc kiểm soát bệnh này bằng cách sử dụng chế phẩm sinh học có chứa vi khuẩn Bacillus subtilis để hạn chế sự phát triển của nhóm vi khuẩn Vibrio spp. gây bệnh. Nuôi ghép tôm với cá rô phi cũng có tác dụng tốt trong kiểm soát nhóm vi khuẩn Vibrio phát triển trong ao nuôi. Để khống chế trùng hai tế bào, sử dụng tỏi với liều lượng 5-10 g/kg thức ăn cho hiệu quả cao.


Hội chứng Taura trên tôm thẻ chân trắng

Việt Linh
Cập nhật 24/07/2012

Virus gây hội chứng Taura được phát hiện vào năm 1992 ở Ecuador và nhanh chóng truyền sang các nước Châu Mỹ, châu Á gây nhiều thiệt hại cho người nuôi tôm.

Virua Taura là loại virus Picornavirus, thuộc họ Picornaviridae, có dạng hình cầu 20 mặt, kích thước khỏang 31- 32 nm. Hệ thống gen là một mạch RNA. Virus ký sinh tế bào biểu mô và dưới biểu mô đuôi.

Hội chứng Taura thường gặp ở tôm thẻ chân trắng (L. vannamei = Penaeus vannamei) ở giai đoạn nuôi từ 14-45 ngày tuổi, cỡ 0,05-7,0g. Bệnh cũng có thể nhiễm trên tôm thương phẩm.

Dịch bệnh TSV rất nguy hiểm, thời gian ủ bệnh cao, lan truyền rất nhanh, có thể gây chết từ 40- 95% ở tôm nuôi từ post, tôm giống, tôm giống lớn.

Bệnh TSV cũng có thể nhiễm ở tôm sú (P. monodon), tôm he Nhật Bản (P. japonicus) và một số loại tôm khác.

Triệu chứng của bệnh phổ biến là cơ thể và các bộ phận khác có màu đỏ hoặc đen hồng, biếng ăn, hoặc rúc vào đìa nuôi.

Triệu chứng: tôm bị nhiễm TSV có triệu chứng tương tự như bị bệnh vi khuẩn.

- Tôm yếu, èo uột, vỏ mềm, ruột không có thức ăn, bơi lờ đờ trên mặt nước, tấp mé bờ, chậm lớn. Gan tụy có màu vàng hơn bình thường; mang, đuôi có thể bị sưng. Thân tôm (đuôi, chân bơi) có màu đỏ nhạt, hồng xám. Khi dùng kính hiển vi quan sát đuôi và chân bơi của tôm sẽ thấy có dấu hiệu hoại tử.

- Ở giai đoạn cấp tính, tôm thường chết trong quá trình lột xác. Theo Việt Linh, trong độ tuổi 30-45 ngày, tôm thẻ chân trắng nhiễm TSV cấp tính có thể chết hàng loạt sau 2-3 ngày bỏ ăn. Đầu tiên thấy xuất hiện tôm chết dưới đáy, sau đó tôm nổi lên mặt nước và có nhiều tôm chết ở rìa ao.

- Nếu tôm sống lột vỏ được, chúng có thể hồi phục và sinh trưởng bình thường, dù vẫn nhiễm liên tục virus.

- Sau giai đoạn cấp tính, biểu bì bị hoại tử sẽ gây nên các đốm đen trên thân tôm, vỏ kitin ở đuôi và chân bơi bị ăn mòn, do vi khuẩn Vibrio spp.

- Tôm nhiễm TSV giai đoạn mạn tính: không có dấu hiệu bên ngoài, mô bệnh chỉ có trong tổ chức lympho của tế bào.

- Virus Taura có thể nhiễm trên tôm sú (P. monodon) gây ra bệnh đỏ đuôi: tôm có màu đỏ ở toàn bộ vùng đuôi quạt và các đốt thân kế tiếp ngược lên phía đầu; Chân bò, chân bơi cũng có màu đỏ. (Theo TS Văn Thị Hạnh)

Chẩn đoán bệnh

- Phương pháp truyền thống: xét dấu hiệu lâm sàng, tác nhân thô, mô học và xét nghiệm sinh học.

- Phương pháp kháng thể: test ELISA, test PCR

Phòng và trị bệnh TSV

Áp dụng phương pháp phòng bệnh tổng hợp. Tương tự như phòng bệnh MBV, bệnh đốm trắng và bệnh đầu vàng.

Phòng bệnh hữu hiệu nhất là: chọn con giống không có mầm bệnh sau khi qua kiểm tra PCR hoặc theo phương pháp SPF (specific Pathogen Free).

Thiết kế ao nuôi riêng biệt, làm lưới ngăn giáp xác mang mầm bệnh vào ao, không lấy nước trực tiếp từ nguồn nước chưa xử lý, định kì cho ăn bổ sung các loại thuốc tăng sức đề kháng: vitamin C, khoáng, probiotic.

Khi ao tôm nhiễm bệnh, phải sát khuẩn kĩ, giảm tối thiểu sự lây lan qua các ao khác.

Theo TS. Nguyễn Quang Tề, có thể quan sát thấy như sau:

tom chan trang

Hình A: Tôm sú (P. monodon) gây nhiễm bệnh TSV (7/2004) đuôi hơi chuyển màu hồng.

tom chan trang

Hình B: Tôm chân trắng (L. vannamei) nhiễm bệnh TSV cấp tính, hôn mê, đuôi đỏ, mép đuôi hoại tử (thu mẫu ở Hải Phòng, 12/2002)

tom chan trang

Hình C: Tôm chân trắng thân chuyển màu hồng và đuôi có màu trắng đục (con phía trên)- mẫu thu Hải Phòng 11/2003

tom chan trang

Hình D: Tôm chân trắng bị bệnh thân chuyển màu trắng đục (mẫu thu Nam Định, 9/2003)

Theo TS.  DV Lightner (Đại học Arizona - Hoa Kì):

(Nguồn: Thư viện của Anaca)

tom chan trang

Hình 1: Tôm yếu, mềm vỏ, đỏ đuôi

tom chan trang

Hình 2: Nhìn trên kính hiển vi, thấy đuôi tôm có rìa bị hoại tử

tom chan trang

tom the chan trang

Hình 3, 4: Thân tôm có thể chuyển sang màu trắng đục và luôn có đốm đen do hoại tử



  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

0 nhận xét:

Đăng nhận xét