Container Icon

Trà phổ nhĩ Việt Nam khác gì trà phổ nhĩ Trung Quốc?

 Như chúng ta đã biết, phổ nhĩ là một loại trà lên men của Trung Quốc có nguồn gốc từ tỉnh Vân Nam. Lịch sử trà kéo dài hàng ngàn năm của Vân Nam đã gây ảnh hưởng sâu sắc tới các nước láng giềng của Trung Quốc, đặc biệt là Việt Nam. Hãy cùng Quân trà khám phá lịch sử văn hóa trà Phổ Nhĩ của Việt Nam nhé.
“Thư nhàn hỏi lửa pha trà mới,
Thích thú tựa thông nhìn ráng sa
Chợt nghĩ về hưu vui thú ấn,
Một cần câu trúc chuyện đời qua.”
(Cao Bá Quát)

Lịch sử trà Việt
Trà (hoặc chè) Việt có lịch sử lâu đời và khá phong phú, cho đến nay đã kéo dài hơn 1000 năm. Nó gắn bó sâu sắc với truyền thống, tập quán xã hội và nền kinh tế của đất nước. Việc trồng và tiêu thụ trà đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử và sự phát triển của xã hội Việt Nam.
Từ xa xưa, trà thường được sử dụng trong tầng lớp quý tộc thượng lưu ở Việt Nam do hương vị và lợi ích của nó mang lại. Theo thời gian, trà trở nên dễ tiếp cận hơn với người dân và ngày nay đã trở thành đồ uống phổ biến trên cả nước.
Trà cũng đóng vai trò thiết yếu trong các nghi lễ và tập quán xã hội của người Việt, thể hiện sự hiếu khách và tôn trọng.

Trà Việt: Huyền thoại và hiện thực
Nguồn gốc của trà Việt cho tới nay vẫn chưa được xác định chính xác. Có người cho rằng, nó xuất phát từ các thương nhân Vân Nam, Trung Quốc vào thời nhà Đường (thế kỷ thứ VII – X). Từ đó trở đi, việc trồng chè ở Việt Nam đã phát triển thành những truyền thống và tập quán độc đáo gắn liền với di sản văn hóa dân gian phong phú.
Theo thư tịch cổ Việt Nam, cây chè đã có từ xa xưa dưới 2 dạng :cây chè vườn hộ gia đình vùng châu thổ Sông Hồng và cây chè rừng ở miền núi phía bắc.
Lê Quý Đôn trong sách ” Vân Đài loại ngữ ” (1773) có ghi trong mục IX, Phẩm vật như sau:
” … Cây chè đã có ở mấy ngọn núi Am Thiên, Am Giới và Am Các, huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá, mọc xanh um đầy rừng, thổ nhân hái lá chè đem về giã nát ra, phơi trong râm, khi khô đem nấu nước uống, tính hơi hàn, uống vào mát tim phổi, giải khát, ngủ ngon. Hoa và nhị chè càng tốt, có hương thơm tự nhiên…”
Năm 1882, các nhà thám hiểm Pháp đã khảo sát về sản xuất và buôn bán chè giữa sông Đà và sông Mê Kông ở miền núi phía Bắc Việt Nam, từ Hà Nội ngược lên cao nguyên Mộc Châu, qua Lai Châu; đến tận Ipang, vùng Xípxoongpảnnả (Vân Nam), nơi có những cây chè đại cổ thụ.
” Hàng ngày những đoàn thồ lớn 100-200 con lừa, chất đầy muối và gạo khi đi và nặng chĩu chè khi về. Ipang nổi tiếng về chất lượng chè đạt mức ngự trà cống nộp .cho Hoàng đế Trung Hoa. Loại chè cao cấp này không bán ngoài thị trường..; và ai cũng cố giấu lại một phần nhỏ, mặc dù có nguy cơ bị trừng trị nặng nề. Tôi đã trông thấy một nắm chè loại này màu trắng ngà, bao gồm những cánh chè rất nhỏ và rất xoăn. Vùng đất đai của Đèo Văn Trị ở Lai Châu, là hàng xóm láng giềng gần gũi của Ipang”.
Sau những chuyến khảo sát rừng chè cổ ở tỉnh Hà Giang Việt Nam (1923), và tây nam Trung Quốc (1926), các nhà khoa học Pháp và Hà Lan, đã viết “…những rừng chè, bao giờ cũng mọc bên bờ các con sông lớn, như sông Dương Tử, sông Tsi Kiang ở Trung Quốc, sông Hồng ở Vân Nam và Bắc Kỳ (Việt Nam), sông Mê Kông ở Vân Nam, Thái Lan và Đông Dương, sông Salouen và Irrawađi ở Vân Nam và Mianma, sông Bramapoutrơ ở Assam. “
Năm 1976, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, sau những nghiên cứu về tiến hoá của cây chè, bằng phân tích chất catésin trong chè mọc hoang dại, ở các vùng chè Tứ Xuyên, Vân Nam Trung Quốc, và các vùng chè cổ Việt Nam (Suối Giàng, Nghĩa Lộ, Lạng Sơn, Nghệ An…), đã viết :
… Cây chè cổ Việt Nam, tổng hợp các catêchin đơn giản nhiều hơn cây chè Vân Nam…. Từ đó có sơ đồ tiến hoá cây chè thế giới sau đây ” Camellia → Chè Việt Nam → Chè Vân Nam lá to → Chè Trung Quốc → Chè Assam (Ấn Độ)”.
Các loại trà phổ biến ở Việt Nam
Cây chè đóng một vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa của người Việt, với khu vực trồng chè chủ yếu nằm ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam.
Theo báo cáo năm 2018 của Hiệp hội chè Việt Nam, trà đen là loại chè phổ biến nhất,  chiếm 52% tổng sản lượng chè. Trà xanh chiếm 43%. Thái Nguyên , Phú Thọ, Tuyên Quang, Lâm đồng là những vùng sản xuất chè xanh chủ yếu của cả nước.
Trà ô long lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỷ thứ XIX từ những thương nhân Trung Quốc. Ngày nay, nó được trồng ở nhiều vùng khác nhau như Lâm Đồng, Mộc Châu, Lai Châu và Hà Giang. Hầu hết, trà ô long ở Việt Nam đều được chế biến từ cây trà ô long nhập khẩu, chủ yếu là giống Đài Loan.
Bạch trà cũng là một trong những loại trà phổ biến sản xuất tại Việt Nam. Cây chè này được trồng ở các tỉnh như Thái Nguyên, Yên Bái, Lâm Đồng, Bình Thuận.
Hoàng trà là một loại trà quý ở Việt Nam và chỉ được sản xuất với số lượng ít ở tỉnh Lào Cai.
Trà phổ nhĩ là một loại trà truyền thống được trồng chủ yếu ở các tỉnh Hà Giang, Yên Bái, Sơn La, Điện Biên và Lào Cai.
Trà phổ nhĩ ở Việt Nam
Trà phổ nhĩ được trồng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc như Hà Giang, Yên Bái, Sơn La, Điện Biên và Lào Cai. Những vùng này có khí hậu và điều kiện địa lý tương tự Vân Nam, Trung Quốc nên thích hợp trồng những loại chè có lá to. Cộng đồng người H’mông, Dao và Thái có lịch sử lâu đời về trồng và tiêu thụ trà phổ nhĩ như một phần tập quán văn hóa xã hội của họ.
Trà phổ nhĩ còn được sử dụng như một vị thuốc trong y học cổ truyền do có nhiều lợi ích cho sức khỏe. Nó có tác dụng điều trị các bệnh về tiêu hóa, huyết áp cao, thải độc và giảm cholesteron.
So sánh trà phổ nhĩ Việt Nam và trà phổ nhĩ Trung Quốc.
Trà phổ nhĩ Việt Nam và trà phổ nhĩ Trung Quốc đều được lên men từ cùng một giống trà là Camellia sinensis. Tuy nhiên, chúng lại khác nhau về hương vị, mùi thơm, phương thức sản xuất và chế biến…
Về hương vị, trà phổ nhĩ Việt Nam có vị ngọt nhẹ và êm dịu, mượt mà. Trong khi đó, trà phổ nhĩ Trung Quốc có hương vị mạnh, phức tạp và đắng hơn.
Về mùi thơm, trà phổ nhĩ Việt Nam thường có mùi hương hoa nhẹ nhàng, dễ chịu. Còn trà phổ nhĩ Trung Quốc có mùi thơm phức tạp hơn, thoảng chút hương của long não xen lẫn hương hoa và trái cây. 
Về phương thức chế biến và sản xuất, trà phổ nhĩ Việt Nam thường được sản xuất bằng phương pháp truyền thống, quy mô nhỏ. Trong khi trà phổ nhĩ Trung Quốc được sản xuất bằng phương pháp công nghiệp, quy mô lớn. Phổ nhĩ Việt Nam cũng có giá rẻ hơn phổ nhĩ Trung Quốc nên dễ tiếp cận hơn cho người yêu trà.
Thượng Sơn, Hà Giang: Vùng sản xuất trà phổ nhĩ nổi tiếng ở Việt Nam.
Thượng Sơn là một xã thuộc huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Khu vực này bao gồm nhiều ngọn núi và vườn chè ở độ cao 1300m – 1800m. Đây là nơi nổi tiếng về sản xuất và chế biến trà phổ nhĩ chất lượng cao từ lá trà được hái từ các cây trà cổ thụ ở vùng núi xung quanh.
Sản xuất trà phổ nhĩ ở Thượng Sơn là một quá trình là một quá trình tốn nhiều công sức, đòi hỏi kỹ năng cao và sự tỉ mỉ đến từng chi tiết. Những người nông dân hái lá trà bằng tay từ những cây chè có tuổi đời hơn 100 năm. Sau đó, họ xử lý mọt cách cẩn thận để giữ được hương vị và mùi thơm tự nhiên.
Việc sản xuất trà phổ nhĩ ở Thượng Sơn gắn liền với môi trường tự nhiên của vùng. Khu vực này nằm ở độ cao hơn 1000m so với mực nước biển, có điều kiện phát triển lý tưởng cho cây chè. Đây cũng là khu vực có hệ động thực vật đa dạng và phong phú. 
Trong những năm gần đây, Thượng Sơn đã trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách muốn tìm hiểu phương thức sản xuất trà truyền thống và thưởng thức trà phổ nhĩ chất lượng cao.


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

BẠCH TRÀ HOANG DÃ

 


 Bạch trà hoang dã là dòng cây rừng hoang dã rất hiếm, trà khí mạnh, mùi hương hoa của núi rừng. Cam kết 100% Organic, không sử dụng hóa chất, không sử dụng hương liệu. Tất cả đều là hương vị tự nhiên do bàn tay khéo léo của nghệ nhân tạo thành.
Đặc biệt trà của Quân Trà không có thời hạn sử dụng, dù 1 năm hay 10 năm, lưu trữ càng lâu càng ngon và quý hơn!
*Phát hiện trà sử dụng hóa chất, hương liệu đền 10 lần giá trị sản phẩm!
Cách Pha: 1gram/40ml –  nhiệt độ 75 – 80. Khi thấy màu nước trà sánh chuyển sang vàng kim nhạt là chuẩn.
Lưu ý
Có thể kết hợp với ấm Chu nê, Tử nê nung nhiệt độ cao đất tốt
Không tráng trà, uống luôn nước 1
Để trà thơm và hương vị đầm hơn nên để trong hũ Tử Sa, hũ gốm nung củi không tráng men, nắp không được chặt quá.
 
  
 
*Phát hiện trà sử dụng hóa chất, hương liệu đền 10 lần giá trị sản phẩm!

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Trà hữu cơ là gì? Cách nhận biết và phân biệt trà hữu cơ

 


Nhiều người thưởng trà ngày nay muốn mua được loại trà sạch hay còn gọi là trà hữu cơ (trà organic). Trà sạch theo cách hiểu phổ biến đó là cây trà không sử dụng thuốc trừ sâu hoặc hóa chất tại các trang trại trồng và chế biến trà, do đó lá trà sạch và tinh khiết. Mua trà hữu cơ được cấp giấy chứng nhận đem lại sự yên tâm, tuy nhiên có nhiều loại trà hoàn toàn hữu cơ không được chứng nhận chính thức như vậy. Hãy cùng Quân Trà tìm hiểu tất tần tật về trà Hữu cơ ở bài viết sau đây.

Trà hữu cơ là gì?

Trà hữu cơ hay còn gọi là trà organic có là lá trà không sử dụng bất kỳ hóa chất nào. Các hóa chất bao gồm: thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc diệt nấm hoặc phân bón hóa học khi trồng hoặc chế biến trà sau khi thu hoạch. Các hóa chất như vậy không chỉ gây hại cho môi trường mà còn cho người uống trà. Vì lá trà không được rửa sau khi thu hoạch, về cơ bản, lần “rửa” đầu tiên là khi chúng ta pha trà. Do đó, tất cả các chất cặn bã này sẽ đi thẳng vào nước trà của chúng ta. Cho dù có được chứng nhận hữu cơ hay không, những người nông dân có ý thức tự hào về việc trồng trà chất lượng đều biết cách tránh những hóa chất này.

Búp trà sạch sau khi thu hoạch và chế biến đều không được có hóa chất

Giấy chứng nhận trà hữu cơ

Để được chứng nhận là nhà sản xuất trà hữu cơ là một quá trình tốn kém và đầy thử thách. Đừng ngạc nhiên nếu trà hữu cơ được chứng nhận có giá tương đối cao hơn so với trà không hữu cơ. Người sản xuất phải mất thời gian và tiền bạc để đảm bảo trà của họ được chứng nhận hữu cơ, chưa kể đến các bước bổ sung mà họ thực hiện để trồng trà trong điều kiện nguyên sơ.

Tuy nhiên, đôi khi điều xảy ra trong thế giới trà là các nhà sản xuất trà hữu cơ sử dụng sức mạnh của chứng nhận của họ để sản xuất các loại trà kém chất lượng với giá cao hơn. Vì lý do này, nhiều người uống trà lâu năm chọn cách tránh xa nhãn “hữu cơ” và sử dụng kiến ​​thức của riêng họ về việc mua trà hữu cơ mà không được dán nhãn như vậy.

Khó khăn khi cấp giấy chứng nhận trà hữu cơ

1. Chi phí

Việc được chứng nhận là hữu cơ là một quá trình rất tốn kém. Một số trang trại chỉ đơn giản là chọn đầu tư tiền của họ vào việc khác – như tiếp tục sản xuất các loại trà ngon.

Điều này đặc biệt đúng với những nhà cung cấp nhỏ với sản lượng thấp. Nhiều trang trại trà truyền thống, tự hào sản xuất các loại trà độc đáo và ngon, thường hoàn toàn thủ công, không có sản lượng lớn. Họ không bán được nhiều trà như vậy mỗi năm, vì vậy việc trả tiền cho chứng nhận hữu cơ sẽ chiếm một phần lớn thu nhập của họ. Việc được chứng nhận hữu cơ thường có ý nghĩa hơn đối với những người trồng trà lớn hơn có sản lượng lớn.

Trà được chế biến theo phương pháp truyền thống tại vùng đồng bào dân tộc miền núi

2. Tiêu chí

Tiêu chuẩn để được chứng nhận hữu cơ thực sự rất nghiêm ngặt. Ngay cả những dấu vết nhỏ nhất của một chất lạ cũng có thể khiến bạn mất chứng nhận. Ví dụ, không gian khan hiếm ở các vùng trồng trà phổ biến trên sườn núi và nhiều trang trại trà được trồng gần nhau. Một trang trại có thể thực hiện mọi bước để đảm bảo trà của họ tinh khiết và hữu cơ.

Tuy nhiên, thật không may, họ không thể ngăn chặn các chất ô nhiễm xâm nhập từ các trang trại lân cận hoặc thậm chí từ các con đường gần đó. Lượng cặn bã này không quan trọng đối với chúng ta là những người uống trà. Tuy nhiên, theo các điều khoản nghiêm ngặt của chứng nhận hữu cơ, nó có thể khiến trang trại mất chứng nhận. Điều này, đến lượt nó, có nghĩa là danh tiếng bị hoen ố và lãng phí thời gian và tiền bạc. Hầu hết nông dân chọn tiếp tục trồng trà theo các phương pháp tốt nhất và không phải trải qua những rắc rối của quá trình cấp giấy chứng nhận trà hữu cơ. 

Đồi chè ở xã Vân Hồ, Vân Hồ, Sơn La canh tác theo phương pháp hữu cơ

3. Rủi ro

Nhiều người trồng trà chất lượng hoàn toàn dựa vào vườn trà để kiếm thu nhập. Rất nhiều người nông dân chăm sóc trang trại nhỏ của họ bằng tay và luôn đảm bảo các biện pháp thực hành tốt nhất. Tuy nhiên, bạn không bao giờ biết thiên nhiên sẽ dành cho bạn điều gì.

Giả sử có một đợt sâu bọ đột ngột. Người nông dân phải lựa chọn mất tất cả những cây mà họ đã dành nhiều năm chăm sóc, cùng với thu nhập của họ trong nhiều năm tới. Hoặc, họ có thể sử dụng một lượng thuốc trừ sâu tối thiểu để ngăn chặn sâu bọ. Tất nhiên, lựa chọn thứ hai sẽ khiến họ mất chứng nhận hữu cơ.

Trà hữu cơ không có chứng nhận

Nhiều trang trại trà sản xuất trà hữu cơ mà không có chứng nhận. Đây thường là những trang trại trồng trà theo từng đợt nhỏ và chăm sóc vườn trà của họ bằng thủ công. Sau đây là một số loại trà thường là trà hữu cơ mà không có giấy chứng nhận.

1. Trà núi cao

Để được chứng nhận là một trà núi cao (một số loại trồng trên núi đá ở Trung Quốc còn được gọi là Nham trà), những người nông dân phải trồng bụi cây của họ ở độ cao 1000 mét so với mực nước biển hoặc cao hơn. Trên thực tế, sâu bọ và côn trùng không thể sống sót ở độ cao này. Do đó, hoàn toàn không cần thuốc trừ sâu hoặc bất kỳ hóa chất nào khác. Hơn nữa, những trang trại này chỉ được bao quanh bởi không khí trong lành của núi rừng và sương mù. Bạn có thể chắc chắn rằng trà vùng núi cao của bạn là hữu cơ nhất có thể. 

Cây trà shan tuyết cổ thụ trong tự nhiên có tuổi đời hàng trăm năm

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Tìm hiểu nghi lễ cắm hoa trong trà đạo

 


Nói đến nghi lễ cắm hoa trong trà đạo mọi người thường hay nghi tới Ikebana — nghệ thuật cắm hoa của Nhật Bản. Tuy nhiên Chabana (茶花) ​​mới được coi là nghệ thuật cắm hoa được thực hiện riêng cho các buổi lễ trà đạo. Hãy cùng Quân Trà tìm hiểu nghi lễ cắm hoa trong trà đạo Nhật Bản và Trung Quốc có điều gì thú vị.

Lịch sử của nghệ thuật cắm hoa

Theo như chúng ta biết, nghệ thuật cắm hoa có nguồn gốc từ thời Lục triều của Trung Quốc (220-589) và thực sự phát triển mạnh mẽ vào thời Đường (618-907) và Tống (960-1279).

Bản thân nghệ thuật chabana bắt đầu xuất hiện vào thời nhà Minh (1368-1644), cụ thể là vào khoảng những năm 1488-1595. Việc lựa chọn những chiếc bình đẹp và cổ cho nghi lễ trà đạo ngày càng trở nên phổ biến trong thời gian này. Do đó, những người đam mê trà cũng sẽ chọn những chiếc bình cổ để cắm hoa và nhâm nhi tách trà trong khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp lịch sử của chúng. Nhiều bài thơ về trà đã ra đời vào khoảng thời gian này. 

Hoa được tạo ra từ một loại năng lượng sáng chói tỏa sáng giữa Trời và Đất.

  • Viên Trọng Đạo – nhà thơ thời nhà Minh (1368-1644)
Chọn những chiếc bình cổ để cắm hoa và nhâm nhi tách trà

Ikebana là gì?

Thuật ngữ ikebana bắt nguồn từ các từ ike  cuộc sống  bana  hoa. Thực hành ikebana có nguồn gốc từ Trung Quốc. Sau đó được du nhập vào Nhật Bản, nơi nó được thực hành và hoàn thiện hơn nữa. Vào thời điểm ban đầu, mọi người thực hiện các tác phẩm cắm hoa ikebana chỉ để tuân thủ các truyền thống Phật giáo. Ngày nay, hầu hết mọi người liên tưởng ikebana với Nhật Bản, vì đây là nơi nghệ thuật này thực sự phát triển mạnh mẽ. Mặc dù vậy, mọi người thực hành nhiều hình thức cắm hoa khác nhau trên khắp thế giới.

Ikebana có nhiều công dụng. Mọi người cắm hoa cho nhà cửa, tiền sảnh và bàn thờ, chỉ kể đến một vài công dụng. Có những khác biệt tinh tế trong từng loại cắm hoa. Tất nhiên, cũng có một loại cắm hoa độc đáo cho các buổi trà đạo – chabana.

Ikebana là một nghệ thuật mang tính chất thời điểm do thời gian tồn tại của hoa không kéo dài. Chúng ta chỉ có thể thưởng thức vẻ đẹp của hoa mận  hoa anh đào trong một tuần. Không có gì ngạc nhiên khi ở Nhật Bản, mọi người theo dõi cẩn thận các sự kiện ngắm hoa anh đào trong suốt cả năm và các công ty đảm bảo cho nhân viên của mình thời gian nghỉ ngơi chỉ để họ có thể tận hưởng vẻ đẹp vào thời điểm này cùng gia đình và bạn bè.

Khi chúng ta dành thời gian quý báu để cắm hoa, chúng ta hiểu rằng vẻ đẹp của hoa chỉ kéo dài hơn một vài ngày. Với sự hiểu biết và sự tận tâm này, chúng ta có thể tôn vinh trọn vẹn cuộc sống của cây cối hoa lá.

Sự tinh tế của Chabana

Từ Chabana (hoa trà) trong đó Cha có nghĩa là trà, và bana có nghĩa là hoa trong tiếng Nhật. Chabana có nguồn gốc từ Wabi Cha – một buổi trà đạo giản dị do Sen no Rikyu khởi xướng. Theo lời dạy của wabi-sabi, hay wabi cha, các bậc thầy trà dạy rằng việc cắm hoa trong phòng trà phải đơn giản. Quan trọng nhất, hoa không được làm mất tập trung của khách vào hoạt động chính, đó là trà. Hoa trong phòng trà phải tượng trưng cho sự sống, sự thay đổi và tính thời vụ. Chúng phải xuất hiện như chúng xuất hiện trên cánh đồng hoa dại hoặc bên lề đường: không trang trí và tối giản.

Chabana với phong cách cắm hoa tối giản

Vai trò của hoa trong không gian trà là làm nổi bật hơn nữa mối liên hệ của chúng ta với thiên nhiên. Cũng giống như trà đến từ các bụi trà, nước từ các dòng suối trên núi, cốc từ đất và chiếu từ rơm. Vì vậy, những bông hoa được sắp xếp nhẹ nhàng để nhắc nhở tất cả các vị khách về mối liên hệ không thể phủ nhận của chúng ta với thiên nhiên xung quanh.

Lần tới khi bạn đi dạo trong thiên nhiên, hoặc thậm chí là đi dạo qua công viên gần nhà, hãy chú ý đến những yếu tố thú vị của thiên nhiên. Đó có thể là hoa dại, cành cây gãy hoặc đá… bất cứ thứ gì có thể làm tăng thêm sức hấp dẫn tự nhiên cho không gian trà của bạn.

Vào đầu buổi trà đạo Nhật Bản, trà sư thường sẽ giới thiệu hoa cho khách. Thông thường, đây sẽ là bất kỳ loại hoa nào có trong mùa. Hơn nữa, chúng thường đến từ chính khu vườn của người trà sư. Hoặc có lẽ, người trà sư đã hái hoa trong chuyến đi bộ hàng ngày của họ. Hoa Chabana chắc chắn không nên lấn át toàn bộ bối cảnh của phòng trà bằng màu sắc hoặc mùi hương. Lý tưởng nhất là chúng không có mùi gì cả hoặc có mùi thơm thoang thoảng có thể bổ sung cho nghi lễ trà đạo.

Cách cắm bình hoa Chabana

Trong khi chabana theo đuổi sự đơn giản và thoải mái hơn nhiều so với cách cắm hoa ikebana, vẫn có một số nguyên tắc chung cần lưu ý. Vì chabana tuân thủ các nguyên tắc của wabi-sabi, sự không hoàn hảo hoàn hảo, nên điều quan trọng là không nên lạm dụng nó.

Nếu bạn đang mời khách đến dự tiệc trà, bạn nên cố gắng sắp xếp hoa sao cho những bông hoa hướng về phía khách sẽ ngồi.

Theo như Genshoku Chadō Daijiten(một bách khoa toàn thư về trà đạo Nhật Bản) , các bậc thầy trà đạo gọi một số loài hoa là kinka , nghĩa là hoa cấm. Đây là những loài hoa có tên khó nghe, mùi nồng, không có mùa rõ ràng hoặc nở hoa lâu. Mặc dù không có danh sách cụ thể nào chỉ ra những loài hoa này, nhưng bạn có thể sử dụng phán đoán tốt nhất của mình. Ví dụ, chúng tôi không sử dụng hoa hồng và hoa loa kèn để cắm chabana.

Không sử dụng hoa hồng và hoa loa kèn để cắm chabana.

Bố cục Chabana luôn đơn giản và thường chỉ nên bao gồm một vài bông hoa hoặc cành đang nở. Thường thì bạn sẽ chỉ thấy một bông hoa đơn độc nở rộ duyên dáng từ bình hoa hoặc ống tre. Tuy nhiên, nếu bạn chọn thêm nhiều hoa hơn, hãy luôn làm theo số lượng lẻ (ba, năm, bảy…).
Những bông hoa lớn nhất nên luôn được cắm ở mép bình, trong khi những bông hoa mỏng hoặc dài có thể được cắm ở giữa bình.

Sử dụng hình dạng và độ dài tương phản để thêm nét cá tính và sự hấp dẫn cho các cách sắp xếp. Không giống như bó hoa phương Tây, trong chabana luôn sử dụng sự đối lập. Sáu vật dụng chính trong cắm hoa là: bình hoa, giỏ đan, lọ hoa, đĩa, bát và ống tre.

Cắm hoa trong trà đạo Nhật Bản và Trung Quốc

Chúng ta có thể thấy các kiểu cắm hoa ở cả hai nơi Chanoyu (Chado / Sado / trà đạo Nhật Bản)  Công Phu Trà (Gong Fu Cha / Trà đạo Trung Hoa / Trà đạo công phu). Trong khi bạn sẽ luôn thấy chabana trong trà đạo chanoyu, thì khi nói đến Công Phu Trà việc có cho hoa vào trà đạo hay không lại phụ thuộc nhiều hơn vào người pha trà (không bắt buộc phải có hoa).

Các nghi lễ trà đạo của Nhật Bản diễn ra trong một không gian đặc biệt: phòng trà hoặc túp lều trà. Trong phòng này, có một không gian dành riêng cho người pha trà, khách và tokonoma – đây là khu vực được chỉ định đặc biệt để trưng bày các yếu tố theo mùa và theo chủ đề cho buổi trà đạo. Ví dụ, tranh treo tường (Kakejiku) và cắm hoa chabana.

Tranh Kakejiku loại thư pháp về một câu nói ý nghĩa, một bài học, một lời nhắc nhở

Mặt khác, trong nghi lễ trà đạo của Trung Quốc, tất cả khách mời và người pha trà thường ngồi quanh một chiếc bàn trà lớn  cha ban. Tất cả các yếu tố mà người chủ định sử dụng cho nghi lễ trà đạo công phu sẽ được đặt trên bàn trà. Nếu họ chọn cắm hoa, thường sẽ khá đơn giản để không cản trở tất cả các dụng cụ pha trà.

Hoa trong tiệc trà đạo Trung Quốc

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Lịch sử giao dịch bán trầm

 

Khách hàng Trung Quốc mua hàng 
Khách mua từ Trung Quốc 
Thu từ khách UAE

Khách hàng Jatin từ UAE










  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Câu chuyện về trầm hương

 


Trong vạn vật từ buổi Hồng hoang cho đến nay linh  hồn nào dù là cây cỏ hay động vật hay con người khi bị tấn công đều tiết ra một chất độc hoặc chất không có lợi để kháng lại sự tấn công đó , nhưng lại có 1 loại cây khi bị tấn công lại tiết  ra 1 loại nhựa tự chữa lành cho vết thương của mình nhưng cũng là chất chữa được các bệnh về thân và tâm cho nhân loại đó chính là trầm hương. 

Trầm hương là tính dương, và vì có đặc điểm có thể trầm xuống nên có thể đi vào thận để bổ cho chân khí của con người ở thận, nhưng lại không thể đi xuống luân xa 1, 2 nên quế có thể đi vào được luân xa 1,2 do đó sự kết hợp giữa trầm và quế là 1 sự kết hợp hoàn hảo để bổ nguyên khí và đi vào sửa chữa phần gốc khi bị thoát khí. Nên phối trộn theo tỷ lệ 80/20 (quế/trầm) để lấy âm bọc dương, dương sẽ được hiển lộ về sau để đẩy nguyên khí bị hao hụt trong cơ thể bệnh nhân lên sau 1 thời chữa lành bằng trầm và quế. 

“Dược có tính linh” và “dược + âm nhạc”. 

Khi chúng ta dùng dược để chữa lành, nên kết hợp với âm nhạc làm vật dẫn tần số, để kích thích sự “tỉnh dậy” của các ti thể, của các tế bào trong toàn bộ cơ thể, âm nhạc đúng tần số sẽ giúp cân bằng được phần nào đó sự mất cân bằng trong cơ thể, đôi khi 1 buổi nhạc đúng tần số có thể chữa lành 1 vấn đề, nhưng chọn sai tần số sẽ làm cơ thể trở nên mệt hơn. 

Ngày nay xã hội đảo lộn bởi những dòng năng lượng đưa vào cuộc sống ở tần 440hz làm cho con người trở nên đảo điên, mất tính linh và mất kết nối với chính mình cũng như mất kết nối với nguồn! Để đi sâu vào bộ chữa lành hãy tiếp tục đào sâu tìm hiểu và nghiên cứu từng tần số nhạc tạo nên âm hưởng của sự  chữa lành và yêu thương. 

Trầm còn 1 ý nghĩa quan trọng nữa mà sách ít nói tới là giáng thần xuống hội với tinh trong luyện tam bảo tinh khí thần. 

đo cảm xạ thì gói RAP năng lượng là 39k (màu xanh dương) còn gói WAP là 52k màu tím. WAP ở tầng đó thì người gần mức sẽ thấy như gặp tiên dược, còn nếu cách xa quá thì lại không thấy gì. 

Bạch kỳ trên mức tím 3 cấp (cấp hư vô), nhưng trước xoay nghịch sau xoay thuận. Bạch kỳ bình thường thấy vẫn còn tia lửa bên trong. Nhưng bạch kỳ của Sophie thì hoàn toàn biến mất cái đó. Tầng ấy linh tính đều rất mạnh, nên thường sẽ dùng để chữa bệnh hoặc giúp người thì sẽ không bị "lỗi". Còn nếu dùng để kiếm tiền rồi hưởng thụ thì phước sẽ tổn rất nhanh.

Hôm nay (24/8/2024) tạo ra 1 viên dược năng lượng tím, nhưng tác dụng chính lại là trừ tà và phục hồi, có sử dụng bột trầm WAP. Trước đây viên thuốc của em chỉ phục hồi thôi không có trừ âm tà.

 Hôm nay em đổ bột trầm vào cao nhất định trầm không chịu chìm xuống, Em trì lục tự một câu thôi là tất cả tan. 











  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Cách thử chất lượng trầm của người Trung Đông


Đầu tiên sẽ khò than để cháy, sau  khi than  cháy lên 1-2p bắt đầu cho miếng trầm thô vào, cách đặt miếng trầm thô lên viên than là đặt phần có dầu hướng lên trên, phần không dầu sẽ úp vào phần than. Vì khi than bén cháy, thì sẽ cháy phần gỗ, và làm nóng phần gỗ để phần tinh dầu sẽ đẩy mùi lên và sôi ở trên. 

Sau đó đưa áo trùm lên toàn bộ lư đốt trầm, cứ để áo trùm như vậy càng lâu càng tốt, hoặc cho đến khi cháy hết miếng trầm trên than. Làm như vậy để kiểm tra 3 điểm chính: 

1. Mùi hương của trầm 

2. Độ lưu hương của trầm (được ủ trong lớp vải được bao lâu)

3. Độ khuếch của hương trầm (sau khi bị ủ vải áo lên nhưng vẫn khuếch được nghĩa là chất lượng đạt).

  

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Trà Đạo Nhật Bản – Lịch sử hình thành và trường phái

 

Nhắc đến Nhật Bản, ai cũng sẽ biết đến trang phục Kimono, Sushi nổi tiếng hay một tinh thần Samurai chỉ có ở con người Nhật Bản. Ngoài ra, người ta còn biết đến Nhật Bản là quốc gia có văn hóa Trà đạo vô cùng đặc trưng. Hãy cùng Quân Trà tìm hiểu về cách làm trà khách trong Trà Đạo Nhật Bản ngày nay.

Nghệ thuật trà đạo Nhật Bản

Trong tiếng Nhật, trà đạo có tên là 茶道 đọc là “sadō” (chadō / ‘The Way of Tea’ hoặc với tên gọi khác là chanoyu / 茶の湯) được xem là một loại hình nghệ thuật đỉnh cao, mang tinh hoa, văn hóa của người Nhật. Trà đạo không chỉ đơn thuần là nhâm nhi thưởng thức trà mà nó còn trở thành một bộ môn được giảng dạy chính thức ở các trường Đại học Nhật Bản.

Trà đạo là một nghi lễ tĩnh tâm, pha trà, đãi khách. Đó là một nét văn hóa truyền thống của Nhật Bản, nơi bạn không chỉ có thể uống trà, mà còn cảm nhận được tinh thần hiếu khách và wabi-sabi.
Đây cũng là một nét văn hóa kết hợp một số nghệ thuật, chẳng hạn như cách tiếp đãi khách, cách chuẩn bị phòng trà, dụng cụ uống trà, và đồ ngọt của Nhật Bản.

Trà thất là một căn phòng được xây dựng riêng cho mục đích uống trà và thưởng trà.

Lịch sử trà đạo Nhật Bản

Lịch sử của Trà ở Nhật Bản bắt đầu từ thời kỳ Nara tới đầu thời kỳ Heian (TK 8 đến cuối TK 11) khi các phái đoàn đi sứ triều Đường (Trung Quốc) mang Trà về nước. Sau đó, thiền sư Eisai (1141-1215) sang nhà Tống (Trung Quốc) tham vấn học đạo rồi học hỏi cách thưởng trà và đem hạt giống cây Trà về trồng ở Nhật. Lúc bấy giờ, người ta dùng Trà như một vị thuốc và sử dụng chủ yếu tại các Thiền viện. Trà lan rộng ở Nhật Bản vào khoảng thời kỳ Kamakura.
Trong thời kỳ Muromachi, một linh mục tên là Murata Juko đã thông qua tâm linh, vì vậy ông bắt đầu sử dụng các phòng trà và dụng cụ uống trà đơn giản, và “Wabi-cha” hay “Wabi trà” được thành lập, đề cao sự tương tác giữa chủ nhà và khách.

Sau đó, Sen No Rikyu (1522-1591) đón nhận và kế thừa tinh tuý của “Wabi-cha”, rồi hoàn thiện Trà Đạo bằng cách nâng cao giá trị tinh thần của việc thưởng Trà. Ông chủ trương sử dụng nhiều hơn các dụng cụ Trà thuần Nhật, hoặc Triều Tiên thay cho những dụng cụ bằng đồng xuất xứ Trung Quốc. Ông cũng chính là người đã đặt nền móng sáng lập và định hình Trà Đạo Nhật Bản như ngày nay.

4 nguyên tắc chính trong nghệ thuật trà đạo

  • HÒA: Sự hài hòa, giao hòa giữa con người và tự nhiên, giữa người nghệ nhân pha trà với bộ dụng cụ pha trà
  • KÍNH: Sự kính trọng của con người đối với con người, thể hiện qua sự biết ơn cuộc sống mà mỗi người may mắn được ban tặng, tôn kính với mọi người không phân biệt tầng lớp, cấp bậc, sang hèn.
  • THANH: Tình cảm bất vụ lợi, sự tôn kính, trân trọng con người đạt đến “cảnh giới” sẽ giúp tâm hồn nghệ nhân pha trà trở nên thanh tịnh, thanh thản, vô ưu.
  • TỊCH: Có nghĩa là sự cô tịch, không mang ý buồn chán mà mang hàm nghĩa về sự vắng lặng, thanh bình, yên tĩnh.

Ngoài ra, trà đạo còn có những quy tắc đặc trưng thể hiện thông qua:

Không gian thưởng trà 

Trà thất

Trà thất hay còn gọi là “Nhà không” thường được thiết kế theo kiểu nghệ thuật.

Nghệ thuật Tokonoma là kiểu kiến trúc đậm chất truyền thống nhưng phổ biến trong xây dựng nhà ở của người Nhật đặc biệt là khi xây Trà Thất. Nó là một góc nhỏ của căn phòng, được xây thụt vào bên trong dùng để trang trí cho phòng khách và làm nơi uống trà của gia đình.

Tokonoma được trang trí mộc mạc, với tranh thư pháp, tranh bonsai, vật trang trí (kiếm Nhật, hộp hương trầm). Tokonoma là cái hồn của toàn ngôi nhà, thể hiện lối sống khiêm nhường, tinh tế của người Nhật.

Không gian bên trong trà thất trong nghi lễ trà đạo

Chabana

Chabana có nghĩa là “trà hoa”, là nghệ thuật cắm hoa đơn giản mà thanh lịch trong trà đạo của người Nhật Bản. Những bình hoa được cắm một cách đơn sơ nhưng mang hàm ý sâu xa về tình cảm của người chủ nhà đối với khách đến thưởng trà.

Bình hoa không cầu kì, có thể được làm bằng gốm (cả tráng men hoặc thô mộc), tre, đồng… Mỗi mùa qua đi, chủ nhà có thể thay đổi các loại bình khác nhau để trà thất thêm phong phú nhưng vẫn giữ nét đẹp tinh tế, truyền thống vốn có.

Nghệ thuật cắm hoa chabana

Kakejiku

Kakejiku là bức tranh đặc trưng có thể được tìm thấy ở góc trà thất của người Nhật. Đó có thể là tranh thư pháp về một câu nói ý nghĩa, một bài học, một lời nhắc nhở hoặc cũng có thể là bức tranh non nước hữu tình, chim chóc, muông thú.

  • Cách pha trà: Dụng cụ pha phải được tráng qua nước sôi để làm sạch và làm ấm. Sau đó, lau khô bằng khăn sạch. Khi pha trà còn cần phải chú ý khắt khe về lượng nước, loại trà và cách pha (nước không được sôi mà phải luôn được làm nóng ở nhiệt độ 80-90oC trong ấm).
  • Thưởng trà: Hầu như người thưởng trà sẽ không mang các loại phụ kiện hay trang sức kim loại, không sử dụng nước hoa và ăn mặc cầu kỳ hay dung tục. Hầu hết, cả nam (đi tất trắng) và nữ đều mặc Kimono khi thưởng trà. Khi dùng trà, dùng tay trái nâng đáy bát trà một cách nhẹ nhàng, trân trọng, tập trung vào bát trà thay vì nhìn ngắm xung quanh. Còn sau khi uống xong, dù đã dùng hết hay vẫn còn trà bên trong, người thưởng trà đều phải dùng ngón tay cái và trỏ để lau cạnh mép của bát trà.
Tranh Kakejiku loại thư pháp về một câu nói ý nghĩa, một bài học, một lời nhắc nhở

Trường phái trà đạo Nhật Bản tại Việt Nam

Ở Việt Nam, tới thời điểm hiện tại có hai trường phái chính là Urasenke và Yabunouchi

Cách học Trà đạo tùy thuộc vào từng trường phái. Nếu bạn muốn trải nghiệm trà đạo, hãy tham khảo đặc điểm của từng trường phái. Trường phái “Urasenke”, “Omotesenke” và “Mushakojisenke” do con cháu của Sen no Rikyu tạo ra, là những trường phái đặc trưng của trà đạo được gọi là “Senke”.

Ví dụ, khi pha trà, trà của Urasenke được đặc trưng bởi hương vị êm dịu của nó. Mặt khác, Omotesenke không đánh bông trà nên bạn có thể cảm nhận được hương vị sâu lắng của matcha.

Ngoài ra, về mặt tư tưởng, những ý tưởng mà mỗi Senke đề cao là khác nhau.

Pha trà đãi khách

Urasenke

Urasenke là một trong những trường phái trà đạo chính ở Nhật Bản, có lịch sử hình thành và phát triển trên 400 năm, chiếm hơn một nửa tổng số trà nhân trên toàn Nhật Bản. Urasenke có chủ trương là phát triển lan tỏa văn hóa ra khắp nơi, có nhiều chính trị gia tham gia. Hiện nay số hội viên của trường phái trà đạo Urasenke có mặt ở khoảng 100 quốc gia toàn thế giới. CLB ở Việt Nam đã trở thành chi nhánh thứ 109 tại nước ngoài của Hiệp hội Trà đạo lớn nhất Nhật Bản Urasenke. Với bề dày kinh nghiệm hơn 20 năm hoạt động, số thành viên của CLB tính đến thời điểm này là 45 người, trong đó có 34 người Nhật và 11 người Việt Nam. Hoạt động chính của CLB là thực hành và phổ biến trà đạo, tổ chức các hoạt động giao lưu văn hoá Nhật Việt thông qua trà đạo.

Chương trình trải nghiệm 1 buổi tập Trà Đạo tại CLB Trà Đạo Sài Gòn Urasenke

Omotesenke

Omotesenke là một trường phái giữ trung thành các nghi thức từ xưa.

Người ta gọi là “Omotesenke” vì nó là một phòng trà đối diện với con phố chính. Ở trường phái Omotesenke, trà đạo thường được gọi là “Sado”.

Urasenke được đặc trưng bởi việc áp dụng các phương pháp mới trong khi tôn trọng truyền thống. Có nhiều dụng cụ uống trà vì họ chủ động chấp nhận cách cư xử phù hợp với thời đại. Omotesenke tôn trọng những truyền thống cổ hủ và là người bảo thủ. Omotesenke, cũng là chủ đạo của phong cách trà đạo Senke, kế thừa các nghi thức cũ.

Mushakojisenke

Mushakojisenke là một trường phái được đặc trưng bởi sự tinh gọn và động tác hợp lý.

Cái tên này xuất phát từ thực tế rằng đó là một phòng trà trên đường có tên là Samurai Koji. Phòng trà của Mushakojisenke đã biến mất nhiều lần và được xây dựng lại nhiều lần.Cứ mỗi lần như vậy họ đã loại bỏ sự lãng phí trong phòng trà, bỏ qua các hành động không cần thiết và nhấn mạnh các chuyển động hợp lý.

Trà đạo có thể được gọi là “chado” hoặc “sado”, nhưng về nguyên tắc nó được gọi là “chanoyu”.

Yabunouchi 

Đây là trường phái ít phổ biến nhất sau 3 trường phái “Urasenke”, “Omotesenke” và “Mushakojisenke”. Ở Việt Nam có câu lạc bộ Trúc Diệp  (Trung tâm giao lưu văn hóa Nhật Bản) với trường phái Yabunouchi phát triển từ năm 2006. Trường phái này không lớn nhưng ở Nhật khá được trọng vọng vì nó vẫn còn những mối liên hệ mật thiết với giới tăng lữ ở Nhật. Các nguyên tắc cũng khắt khe hơn và khép mình hơn, không chủ giao lưu với người bên ngoài như Urasenke.




  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS