Container Icon

Các loài dược liệu quý

 


Các chủng loại dược liệu quý:

1- Bách hợp

Tên gọi khác:  Tỏi rừng

Tên khoa học:  Lilium brownii F.E. Brow. ex Mill. - Liliaceae

Giới thiệu: Là cây cỏ, cao 0,5 - 1m. Thân hành to màu trắng, sống nhiều năm. Lá mọc so le, hình mác thuôn, mép nguyên. Cụm hoa mọc ở đầu cành, gồm 3 - 5 hoa to, hình hoa kèn màu trắng. Quả nang 3 ngăn, nhiều hạt nhỏ. Cây mọc hoang ở các trảng cỏ và bờ nương rẫy vùng núi cao.

Thu hái, sơ chế: Thu hái vào cuối mùa hạ đầu mùa thu, khi cây bắt đầu khô héo. Rửa sạch, tách vảy, đồ nóng hoặc nhúng vào nước sôi 5 - 10 phút, phơi hoặc sấy khô hoặc sao tẩm với mật ong.

Mô tả dược liệu: Có màu trắng ngà hay vàng nhạt, cứng, có đường gân ở trong, dễ bẻ gãy, vị hơi đắng, nhớt.

Thành phần hóa học: Thân hành chứa glucid 30%, protid 4%, lipid 0,1%, vitamin C và colchicein.

Tính vị: Vị đắng tính hàn,

Tác dụng: Nhuận phế, tiêu đờm, trừ ho, dưỡng tâm, an thần, thanh nhiệt, lợi tiểu.
Công dụng: Chữa lao phổi, ho khan hoặc ho có đờm quánh, ho ra máu, viêm phế quản, sốt, thần kinh suy nhược. Còn dùng chữa tim đập mạnh, phù thũng.

Liều lượng và cách dùng: Ngày dùng 8-20g dạng thuốc sắc hoặc bột. Khi chữa ho, đau ngực, lao phổi, ho ra máu, thường dùng tươi giã nát, ép nước uống.

2- Bát giác liên

Tên tiếng Việt: Bát giác liên, Pha mỏ (Tày), Độc cước liên, Quỷ cữu, Lá vung Nồi, Đa khao

Tên khoa học: Dysosma tonkinense (Gagnep.) M.Hiroe

Họ: Berberidaceae (Hoàng liên gai)

Công dụng: Thân rễ chữa rắn cắn, áp xe và mụn nhọt.

3- Bảy lá một hoa


Vị thuốc Bảy lá một hoa – Thất diệp nhất chi hoa

a. Thông tin khoa học:

  • Tên khoa học: Paris vietnamensis (Takht.) H. Li
  • Tên khác: Thất diệp nhất chi hoa, Tảo hưu, Cúa dô
  • Họ: Bảy lá một hoa (Trilliaceae)

b. Mô tả cây:

  • Cây thảo, sống lâu năm, cao 0,5-0,7cm. Thân rễ mập, chia nhiều đốt, có những ngấn ngang và sẹo to.
  • Thân thắng đứng, cao đến 1 m, không phân nhánh, màu lục hoặc hơi tím, giữa thân có một tầng lá mọc vòng từ 6-8 cái, thường là 7, lá hình trứng-bầu dục hoặc mác thuôn, dài 15-20cm, rộng 8-10cm, gốc tròn hoặc hình tim, đầu nhọn, mép nguyên, măt dưới màu lục nhạt hoặc hơi tím đỏ, có 3 gân, cuống lá dài.
  • Hoa đơn, lá đài hình mũi mác màu lục nóm như lá, có 4-7 (thường là 6) lá xếp thành vòng trên thân. Số lá đài, thường bằng (hoặc xấp xỉ) số lá và số cánh hoa. Số lá đài có thể thay đổi nhiều hay ít trong cùng 1 loài chứ không phải con số cố định. Cánh hoa dạng dải, xoắn ít tới nhiều, dài hơn lá đài 1,2 – 2 lần.
  • Nhị 8-14, số lượng nhị thường gấp 2 lần số lượng lá, số lá đài và số cánh hoa; xếp 2 vòng.
  • Bầu có cạnh bầu lõm sâu, 4-7 cạnh, số cạnh bầu thường bằng với số lá, số lá đài, số cánh hoa và số thùy của đầu nhụy. Phận gốc vòi nhụy – đỉnh bầu thường có màu sắc đa dạng từ màu tía, tím tới màu xanh lam.
  • Vietnamensis được phân biệt với các loài khác thuộc chi ở đặc điểm đặc trưng bao gồm: nhị có trung đới kéo dài hình trụ ngắn 1-1.5mm; cánh hoa dài hơn đài 1,5 – 2 lần; cạnh bầu lõm sâu, lát cắt ngang qua bầu hình sao, nhụy gần như xẻ từ gốc với phần hợp (vòi nhụy) rất ngắn, phần xẻ thành các thùy (đầu nhụy) dài; hạt có áo hạt màu đỏ.

c. Phân bố:

Ở Việt Nam, tất cả các loài thuộc chi Paris đều đang bị khai thác ráo riết để làm thuốc và bán qua biên giới khiến nguồn dược liệu này trong tự nhiên ngày càng cạn kiệt. Nguyen Quynh Nga et al. (2016) đã thống kê và ghi nhận 8 loài và 2 thứ thuộc chi Paris phân bố rải rác ở một số tỉnh miền núi phía Bắc cho tới vùng núi cao miền Trung và Tây Nguyên. Trong đó, P. vietnamensis H.Li là một trong những loài có phân bố rộng nhất.

Quan sát các quần thể của loài này trong tự nhiên cho thấy tỉ lệ đậu hạt và khối lượng thân rễ của các cá thể khá cao so với các loài khác trong chi. Để phát triển nguồn dược liệu, Bảy lá một hoa Việt Nam đang được các cơ sở nghiên cứu tích cực thu thập trong tự nhiên để nghiên cứu, bảo tồn và nhân trồng.

d. Bộ phận dùng:

Thân rễ. Thu hái quanh năm, tốt nhất vào mùa thu đông. Dùng tươi hoặc phơi khô.

e. Thành phần hóa học

Từ cao phân đoạn etyl axetat phần thân rễ bảy lá một hoa (PPC) đã phân 6 hợp chất tinh khiết gồm: diosgenin, hỗn hợp hai chất stigmasterol-3-O-β-D-glucopyranosid và β-sitosterol-3-O-β-D-glucopyranosid, gracillin, paris saponin D, paris saponin H.

Từ cao phân đoạn etyl axetat và butanol phần trên mặt đất loài PPC phân lập được 15 hợp chất tinh khiết: trong đó có 1 hợp chất mới là 12-hydroxy-diosgenin-3-O-α-L-rhamnopyranosyl-(1→2)-[α-L-rhamnopyranosyl-(1→3)]-β-D-glucopyranosid, 5 hợp chất lần đầu tiên phân lập từ chi Paris gồm 1-O-α-linolenoyl-3-β-D-galactopyranosyl-glyxerol, stigmasterol, thymidin, resveratrol, ε-viniferin; 2 hợp chất lần đầu tiên phân lập từ PPC gồm quercetin, quercetrin; và 7 hợp chất khác là pennogenin, stigmasterol-3-O-D-glucosid, diosgenin-3-O-α-L-rhamnopyranosyl-(1→4)-β-D-glycopyranosid, diosgenin-3-O-α-Lrhamnopyranosyl-(1→2)-β-D-glycopyranosid, dioscin, paris saponin II, và paris saponin VII.

f. Tác dụng dược lý:

Glucosid α-paristyphnin chiết từ bảy lá một hoa gây một cảm giác râm ran, và có tác dụng ức chế trên huyết áp động mạch cảnh, cơ tim và cử động hô hấp. Nó gây co mạch thận, nhưng lại gây giãn mạch lách và các chi, kích thích ruột cô lập động vật thí nghiệm. Những tác dụng này không bị atropin hoặc ergotoxin làm thay đổi.

Đã nghiên cứu hoạt tính chống đột biến của cao nước bảy lá một hoa thường được dùng trong y học cổ truyền Trung Quốc làm thuốc trị ung thư, bằng cách dùng hệ thống Salmonella/tiểu thể với sự có mặt của acid picrolonic hoặc benzo (a) pyren để kiểm tra xem dược liệu này có chứa những chất chống đột biến trực tiếp hoặc gián tiếp không. Chiết cao thô bảy lá một hoa với nước đun sôi trong 2 giờ là phương pháp thường được dùng trong y học cổ truyền Trung Quốc để bào chế thuốc sắc uống. Đã nhận xét thấy cao nước bảy lá một hoa có tác dụng chống đột biến ở mức vừa đối với sự đột biến gây ra bởi acid picrolonic. Bảy lá một hoa chứa những yếu tố chống đột biến đối với cả sự đột biến gây bởi acid picrolonic và benzo (a) pyren.

Bảy là một hoa có tác dụng kháng khuẩn đối với nhiều loài vi khuẩn gây bệnh và có hoạt tính chống ung thư đối với những khối u thực nghiệm. Đã phân lập từ thân rễ một số glucosid steroid, được coi là chịu trách nhiệm chính về hoạt tính sinh học này. Những glucosid steroid chủ yếu là glucosid của diosgenin và pennogenin, được chứng minh có tác dụng cầm máu cũng như tác dụng làm tăng lực co cơ của tim ếch cô lập.

g. Tính vị, công năng

Thân rễ bảy lá một hoa còn gọi là tảo hưu, có vị đắng, hơi cay, tính hơi lạnh, hơi độc, vào kinh can, có tác dụng xổ hạ, lợi tiểu, tiêu đờm, thanh nhiệt, giải độc.

h. Công dụng:

  • Thân rễ bảy lá một hoa chữa sốt, sốt rét cơn, kinh giản, giải độc, nhất là khi bị rắn độc cắn, chữa mụn nhọt, viêm tuyến vú, sốt rét, ho lao, ho lâu ngày, hen suyễn
  • Dùng ngoài với tác dụng sát trùng, tiêu sung, giã thân rễ đắp lên những nơi sung đau, vết rắn cắn, tràng nhạc, mụn lở, nhọt.

Ở Trung Quốc, vị thuốc tảo hưu được chế biến từ thân rễ nhiều loại cây thuộc chi Paris mọc ở những tỉnh miền Tây Nam Trung Quốc đã được dùng chủ yếu làm thuốc chữa sốt, giải độc và chữa ho.

  • Ở Ấn Độ và Nê Pan, thân rễ bảy lá một hoa trị giun sán bằng cách uống bột thân rễ mỗi lần một thìa cà phê, ngày một lần, liền trong hai ngày. Để trị mụn nhọt và nhọt độc, hàng ngày bôi bột nhão chế từ thân rễ bảy lá một hoa một cách đều đặn.

Liều dùng:

  • Ngày uống 4 -12g thân rễ dưới dạng thuốc sắc
  • Thuốc dùng ngoài không kể liều lượng.

Kiêng kỵ:

  • Người hư hàn cấm dùng

Bài thuốc có bảy lá một hoa

Chữa trẻ em kinh sài, tay chân co giật: Thân rễ bảy lá một hoa, sấy khô tán bột, uống mỗi lần 0.5 – 1g, ngày 4- 5 lần

Chữa trẻ em sốt cao co giật hoặc quai bị, lên sởi và các chứng sung viêm phát sốt: Thân rễ bảy lá một hoa (4g), thiên hoa phân (8g), bạc hà (12g). Sắc uống.

Chữa rắn độc cắn, nhọt ở vú, viêm phổi: Thân rễ bảy lá một hoa (4 – 20g). Sắc uống

Chữa hen suyễn, ung thư phổi: Thân rễ bảy lá một hoa (4 – 20g) phối hợp với các vị thuốc khác

Chữa lòi dom: Thân rễ bảy lá một hoa mài với giấm bôi rồi đẩy vào


4- Bình vôi


Cây bình vôi thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae) với tên gọi xuất phát từ việc phần củ (phần thân phình to) của loại cây này có hình dáng giống như bình đựng vôi thường được sử dụng để tôi vôi ăn trầu. Ở nước ta, loài cây này có khắp những tỉnh tại miền núi phía Bắc, nhất là Lai Châu, Hòa Bình, Ninh Bình,... Đây là các tỉnh có núi đá vôi. 

Cụ thể, một số đặc điểm sơ bộ của loài cây này như sau: 

- Có đặc tính ưa ánh sáng.

- Thân dây leo có màu xanh, nhẵn và hơi xoắn vào nhau, chiều dài vào khoảng 6m.

- Lá cây mọc so le, có hình trái tim. 

- Có hoa nhỏ, màu xanh nhạt và mọc thành cụm.

- Cây có quả hạch với màu đỏ khi chín, hình cầu dẹt. Còn hạt thì cứng, hình móng ngựa.

- Phần củ (là phần thân giáp với mặt đất phình to ra của cây) mọng nước, khi nếm thử có vị đắng, có lớp ngoài màu nâu đen, bên trong có màu trắng xám và được thu hái quanh năm. Đây là bộ phận chính của cây có công dụng là một vị thuốc đông y sử dụng với mục đích chữa bệnh. 

Cây bình vôi là một loài cây thuộc họ Tiết dê, có đặc tính ưa ánh sáng

Cây bình vôi là một loài cây thuộc họ Tiết dê, có đặc tính ưa ánh sáng

a. Củ bình vôi có các tác dụng nào?

Như đã đề cập, củ bình vôi là phần chính của loài cây này ở công dụng điều trị một số bệnh lý. Cụ thể, một số tác dụng sẽ được đề cập đến sau đây: 

a.1. An thần, gây ngủ 

Củ bình vôi sở hữu tác dụng an thần, gây ngủ. Một lượng lớn hoạt chất L – tetrahydropalmatin hiện diện trong thành phần của loại dược liệu này. Loại hoạt chất này kích thích an thần; đồng thời, cũng giúp duy trì giấc ngủ, trị tình trạng suy nhược cơ thể, hạ huyết áp,…

a.2. Cải thiện chứng mất ngủ 

Đây là loại dược liệu có chứa hoạt chất cepharanthin với tác dụng trong việc điều hòa hệ tuần hoàn của cơ thể. Đồng thời, kích thích cơ thể sản sinh ra một số kháng thể có lợi cho những người đang phải đối diện với chứng mất ngủ.

Bằng việc sử dụng nó, cơ thể sẽ được thư giãn, hệ tuần hoàn được điều hòa. Nhờ vậy, người bệnh không còn bị khó ngủ mà dễ đi vào giấc ngủ hơn, ngủ sâu giấc và có chất lượng giấc ngủ tốt hơn. Khắc phục triệu chứng của mất ngủ có thể giúp người bệnh cải thiện tình trạng sức khỏe và chất lượng cuộc sống.

Củ bình vôi giúp cải thiện chứng mất ngủ

Củ bình vôi giúp cải thiện chứng mất ngủ

a.3. Giúp ngăn ngừa hiệu quả hội chứng rối loạn tiêu hóa

Sử dụng loại dược liệu này đem ngâm rượu hoặc sắc lấy nước có thể giúp ngăn ngừa hội chứng rối loạn tiêu hóa. Trong đó, dùng với liều lượng từ 3g - 6g nếu là người lớn; còn với trẻ nhỏ thì khoảng 0,02g - 0,03g. 

a.4. Hỗ trợ trong điều trị cho bệnh nhân bị bệnh gút

Thành phần L-tetrahydropalmatin chứa trong củ bình vôi có thể góp phần cải thiện những triệu chứng gây ra bởi bệnh gút. 

Theo đó, để hỗ trợ trong điều trị bệnh lý này, cần thực hiện các bước là đem rửa sạch phần củ, cào sạch lớp vỏ ở bên ngoài, rồi tiến hành thái mỏng, sấy khô, nghiền thành bột. Sau đó, mỗi lần sử dụng với lượng khoảng từ 3g - 6g đem hãm với nước sôi và uống. Lưu ý bảo quản phần bột này ở bên trong lọ thủy tinh được đậy kín nắp. 

Dùng củ bình vôi có thể hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân mắc bệnh gút

Dùng củ bình vôi có thể hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân mắc bệnh gút

a.5. Dùng để trị viêm nhiễm đường hô hấp, viêm họng, viêm phế quản 

Bạn có thể dùng củ bình vôi, cát cánh, huyền sâm với liều lượng là 12g cho mỗi loại đem sắc lấy nước uống. Và uống một lần mỗi ngày.

Bài thuốc này có thể giúp điều trị viêm nhiễm đường hô hấp, viêm phế quản hay viêm họng. 

a.6. Dùng để trị viêm loét dạ dày tá tràng

Ngoài ra, khi kết hợp loại dược liệu này cùng với dạ cẩm, khổ sâm, sa tiền tử cũng có thể giúp chống lại bệnh trị viêm loét dạ dày tá tràng. 

5- Cẩu tích


Cẩu tích là vị thuốc Nam quý, có tác dụng bồi bổ can thận và trừ phong thấp. Với nhiều công dụng hữu ích, dược liệu này được sử dụng để chữa chứng đau lưng mỏi gối, tiểu tiện nhiều, đau thần kinh tọa, chân tay tê bì, co quắp và chứng bạch đới ở phụ nữ.

cẩu tích dược liệu

Vị thuốc cẩu tích là thân rễ phơi khô của cây cu li – Cibotium barometz

  • Tên gọi khác: Kim mao cẩu tích, Cu li, Rễ lông cu li, Cù liền.

  • Tên dược: Rhizoma Cibotii Barometz

  • Tên khoa học: Cibotium barometz

  • Họ: Kim mao (danh pháp khoa học: Dicksoniaceae)

 

Mô tả dược liệu cẩu tích

a. Đặc điểm cây cẩu tích

Cẩu tích là một loài quyết thực vật, thân yếu, chiều cao khoảng 1.5 – 2.5m. Lá dài, một số lá có thể dài đến 2m và bề mặt lá được phủ lông vàng bóng, mịn. Lá kép lông chim, mỗi lá gồm khoảng 15 – 20 cặp lá chét. Lá chét nhỏ, nhọn ở đầu và mép có răng cưa. Dưới mặt lá có các bào tử nhỏ. Thân rễ được phủ lông vàng nâu bao phủ. Cẩu tích thường sống trên những tảng đá lớn, có độ ẩm cao hoặc mọc trên những thân gỗ lớn.

b. Hình ảnh cây cẩu tích

hình ảnh cây cẩu tích

Hình ảnh cây cẩu tích – Loài quyết thực vật, thân yếu, chiều cao khoảng 1.5 – 2.5m

hình ảnh cây cẩu tích

Hình ảnh lá của cây cẩu tích – Lá kép lông chim, lá có thể dài đến 2m, lá chét nhỏ và mép có răng cưa

hình ảnh cây cẩu tích

Hình ảnh thân rễ của cây cẩu tích – Thân được bao phủ với lớp lông màu vàng nâu đặc trưng, dân gian gọi là lông cu li

c. Bộ phận dùng

Thân rễ của cây lông cu li được sử dụng để làm thuốc.

d. Phân bố

Lông cu li mọc hoang ở những vùng đất ẩm gần khe suối, bờ hồ,… Cây mọc nhiều ở tình Hà Giang, Lào Cai, Lâm Đồng, Quảng Nam, Đà Nẵng,…

e. Thu hái – sơ chế

Thu hái vào mùa thu – đông. Sau khi thu hoạch rễ, đem cạo lông vàng để riêng, cắt bỏ cuống lá và rễ con. Sau đó dùng rửa sạch, thái phiến rồi đem phơi hoặc sấy khô. Khi dùng có thể tẩm thuốc với rượu trong vòng 1 đêm rồi đem sao vàng.

Dược liệu sau khi bào chế có màu nâu, vỏ ngoài gồ ghề và sần sùi. Dài khoảng 4 – 10cm, đường kính 2 – 5cm, chất cứng, khó bẻ và cắt.

f. Bảo quản

Bảo quản ở nơi khô ráo và thoáng mát.

g. Thành phần hóa học

Dược liệu cẩu tích có chứa vitamin E, tinh dầu, chất màu, alkaloid,…

 

Vị thuốc củ cẩu tích

1. Tính vị

Vị ngọt, đắng, cay, tính ôn.

2. Quy kinh

Quy kinh Can và Thận.

3. Cây cẩu tích có tác dụng gì?

– Theo Đông Y:

  • Công dụng: Mạnh gân xương, trừ phong thấp và bổ can thận.

  • Chủ trị: Bạch đới, khí hư, tiểu tiện nhiều lần, đau lưng, thận hư yếu,…

  • Ngoài ra nhân dân còn dùng lông ở thân rễ của cây cu li đắp lên vết thương giúp cầm máu.

– Theo nghiên cứu dược lý hiện đại:

  • Dược liệu có tác dụng cầm máu.

4. Cách dùng – liều lượng

Lông cu li được dùng chủ yếu ở dạng sắc với liều lượng 10 – 15g/ ngày.

 

Một số bài thuốc & món ăn chữa bệnh từ cây cẩu tích

cây cẩu tích có tác dụng gì

Cẩu tích là dược liệu chuyên trị các chứng đau lưng, mỏi gối, tiểu tiện nhiều do can thận bất túc, hư yếu

1. Bài thuốc trị chứng can thận bất túc (tiểu tiện nhiều, đau nhức ngang sống lưng)

  • Bài thuốc 1: Đỗ trọng, ngưu tất mỗi vị 10g, cẩu tích 15g, mộc qua 6g và sinh mễ nhân 12g. Đem sắc với 600ml nước còn 200ml, đem chia thành 3 lần uống và dùng hết trong ngày.

  • Bài thuốc 2: Lộc giao (chưng), ngưu tất, đỗ trọng, sơn thù du và thỏ ty tử mỗi vị 12g, cẩu tích 16g, thục địa 16g. Đem các vị sắc lấy nước uống.

2. Bài thuốc trị chân tay tê đau do hàn thấp hoặc phong thấp

  • Bài thuốc 1: Tỳ giải, chế ô đầu mỗi vị 12g, cẩu tích 16g, tô mộc 8g. Đem các vị tán bột làm hoàn, mỗi lần dùng 6 – 8g, ngày dùng 2 lần. Hoặc có thể dùng sắc uống.

  • Bài thuốc 2: Thục địa 20g, hổ cốt, đương quy, tần giao, tùng tiết, quế chi, tục đoạn, tang chi, hải phong đằng, xuyên ngưu tất, cẩu tích và mộc qua mỗi vị 12g. Đem các vị sắc uống, có thể hòa thêm rượu vào để tăng tác dụng.

3. Bài thuốc trị gân mạch khớp chân khó cử động, đau nhức lưng

  • Chuẩn bị: Nhục quế, cẩu tích, khương hoạt và đỗ trọng mỗi vị 30g, tang ký sinh 40g, ngưu tất, tỳ giải và chế phụ tử mỗi vị 50g, rượu trắng 1.5 lít.

  • Thực hiện: Đem dược liệu ngâm với rượu trong vòng 1 tuần, sau đó lọc bã lấy phần rượu trong để uống.

4. Bài thuốc trị chứng can thận hư suy, chân cẳng đau do phong thấp

  • Chuẩn bị: Hoàng kỳ, đan sâm và cẩu tích mỗi vị 30g, phòng phong 15g, đương quy 25g, rượu 1 lít.

  • Thực hiện: Đem ngâm với rượu trong vòng 1 tuần rồi dùng rượu uống hằng ngày.

5. Bài thuốc trị gối mỏi, đau lưng do thận âm hư

  • Chuẩn bị: Phục linh, đương quy, cẩu tích và thỏ ty tử các vị bằng lượng nhau.

  • Thực hiện: Đem dược liệu nghiền thành bột mịn, chế với mật ong làm thành viên nặng 9g. Mỗi lần dùng 1 – 2 viên uống với nước sôi để nguội, ngày dùng 3 lần.

6. Bài thuốc trị chứng lưng đau gối mỏi do thận can hư

  • Chuẩn bị: Đỗ trọng 10 – 12g, cẩu tích 10g và sa uyển tử 12 – 15g.

  • Thực hiện: Đem các vị sắc uống, ngày dùng 1 thang.

7. Bài thuốc trị chứng viêm cột sống có gai xương do can thận bất túc

  • Chuẩn bị: Nhục thung dung, cẩu tích, cốt toái bổ, ngưu tất, thục địa và bạch thược mỗi vị 15g, kê huyết đằng 30g, nữ trinh tử, sơn thù du, đương quy và câu kỷ tử mỗi vị 10g, mộc hương 6g.

  • Thực hiện: Đem các vị sắc uống, ngày dùng 1 thang.

8. Bài thuốc trị tình trạng đau nhức ở tất cả các khớp

  • Chuẩn bị: Ngưu tất, huyết giác, độc hoạt và cốt toái bổ mỗi vị 20g, cẩu tích 30g, cốt khí củ, đan bì, mạch môn, sinh địa và mộc qua mỗi vị 15g. Nếu khớp sưng kèm sốt nên gia thêm bạch chỉ 6g và hoàng đằng 12g. Nếu nhức mỏi, đau lưng gia thêm hà thủ ô, tục đoạn và ba kích mỗi vị 12g. Nếu chân hơi nề, tê bì gia thêm tỳ giải, mộc thông và thiên niên kiện mỗi vị 12g. Nếu huyết áp cao, đau đầu, táo bón và khó ngủ, gia thêm quyết minh tử 24g.

  • Thực hiện: Đem các vị sắc uống hằng ngày.

9. Bài thuốc trị khớp sưng phát cước, tê buốt, đại tiện lạnh

  • Chuẩn bị: Thiên niên kiện, bạch chỉ, cẩu tích, thương truật, độc hoạt và cốt toái bổ mỗi vị 15g, quế chi, nhũ hương (hoặc dùng tùng hương), xuyên khung và tô mộc mỗi vị 10g, bạch truật 20g, cam thảo và phụ tử chế mỗi vị 8g.

  • Thực hiện: Đem sắc uống, hai ngày dùng 1 thang.

10. Thịt lợn hầm hoài sơn, đỗ trọng và cẩu tích trị đau nhức cột sống lưng, di niệu và tiểu tiện nhiều

  • Chuẩn bị: Thịt lợn nạc 200g, đỗ trọng, cẩu tích và hoài sơn mỗi vị 15g.

  • Thực hiện: Cho đỗ trọng và cẩu tích vào túi vải và đun lấy nước. Sau đó thêm thịt lợn và hoài sơn vào nấu thành canh, khi chín nêm nếm gia vị cho vừa ăn.

11. Rượu cẩu tích bổ thận tráng dương trị lưng đau gối mỏi và các chứng bệnh do phong thấp

  • Chuẩn bị: Rượu 30 độ 1 lít, ngũ gia bì, ngưu tất, uy tinh tiên, đỗ trọng và tục đoạn mỗi vị 15g, cẩu tích 18g.

  • Thực hiện: Đem dược liệu ngâm với rượu trong vòng 7 ngày, sau đó ép lấy nước. Ngày dùng 2 lần (sáng – chiều), mỗi lần dùng 20ml.

12. Thịt chó hầm cẩu tích trị chứng di niệu, di tinh, tiểu tiện nhiều, yếu bại chi dưới

  • Chuẩn bị: Thịt chó nạc 500g, câu kỷ tử, cẩu tích và kim anh tử mỗi vị 15g.

  • Thực hiện: Thêm nước vào và nấu cho như, ăn cả nước lẫn cái.

13. Bài thuốc trị chứng đới hạ, đái nhắt, tiểu tiện không tự chủ, lưng đau buốt, thận và gan suy nhược

  • Chuẩn bị: Cao ban long, đỗ trọngngưu tất, sơn thù du và thỏ ty tử mỗi vị 12g, thục địa và cẩu tích mỗi vị 16g.

  • Thực hiện: Cao ban long để riêng, các vị còn lại đem sắc lấy nước. Sau đó hòa với cao ban long vào và uống hết trong ngày.

14. Bài thuốc trị chứng bạch đới, di tinh, tiểu nhiều lần, thận hư yếu, đau lưng gối mỏi

  • Chuẩn bị: Kim anh tử và dây tơ hồng mỗi vị 8g, đỗ trọng 10g, thục địa 12g và cẩu tích 15g.

  • Thực hiện: Đem các vị sắc uống trong ngày.

15. Bài thuốc trị bại liệt co quắp, chân tay yếu mỏi, đau nhức khớp xương do phong thấp

  • Chuẩn bị: Bạch chỉ 4g, xuyên khung 4g, đương quy 10g, bổ cốt toái, tục đoạn mỗi vị 12g, cẩu tích 15g.

  • Thực hiện: Đem các vị sắc uống hằng ngày, mỗi ngày dùng 1 thang.

16. Bài thuốc trị chứng khí huyết đều hư, tứ chi đau nhức

  • Chuẩn bị: Thục địa, hổ cốt, đương quy, tùng tiết, quế chi, tần cửu, mộc qua, cẩu tích, tang chi và ngưu tất mỗi vị 12g.

  • Thực hiện: Đem sắc uống, ngày dùng 1 thang.

17. Bài thuốc trị chứng bại liệt ở trẻ nhỏ

  • Chuẩn bị: Cương tàm 60g, thỏ ty tử 60g, mã tiền tử (sao cát), mộc qua, ngưu tất, ô xà nhục, xuyên tỳ giải, ngô công, đương quy, tục đoạn, dâm dương hoắc (chích), cẩu tích, nhục thung dung và mai mực mỗi vị 30g.

  • Thực hiện: Cho các dược liệu tán thành bột mịn. Sau đó đem dâm dương hoắc sắc lấy nước, sau đó hòa với thuốc bột làm thành viên. Mỗi lần dùng từ 0.3 – 1g uống với nước sôi ấm, ngày dùng 3 lần. Nếu cơ thể yếu nên gia giảm liều lượng.

18. Bài thuốc hỗ trợ điều trị cao huyết áo, xơ cứng mạch và tai biến mạch máu não

  • Chuẩn bị: Linh chi, hoàng tinh, đỗ trọng, kê huyết đằng, thỏ ty tử, cẩu tích, thạch xương bồ và đơn bì, gia giảm liều lượng theo tình trạng bệnh.

  • Thực hiện: Sắc uống.

19. Bài thuốc bổ thận tráng dương trị chứng kém dương sự và thận hư yếu

  • Chuẩn bị: Liên tu, ba kích, cẩu tích, hoài sơn, sừng nai, liên nhục, tục đoạn mỗi vị 1kg, đậu đen 1.5kg, sâm bố chính 1kg, hạt tơ hồng 200g và hoàng tinh 500g.

  • Thực hiện: Đem ba kích tẩm muối, sao vàng, sừng nai đắp đất sét đem nung tồn tính, đậu đen sao tồn tính, các dược liệu còn lại tán thành bột mịn. Sau đó trộn đều các vị làm thành viên. Ngày dùng 2 lần, mỗi lần dùng từ 8 – 12g.

20. Bài thuốc trị chứng viêm khớp và phong tê thấp

  • Chuẩn bị: Cốt toái bổ, cẩu tích, tỳ giải, cỏ xước, thổ phục linh, rễ uy linh tiên nam và thiên niên kiện mỗi vị 10 – 15g.

  • Thực hiện: Đem các vị sắc lấy nước uống.

21. Bài thuốc chữa chứng tê mỏi chân tay, đau nhức lưng

  • Chuẩn bị: Một dược 10g, tỳ giải, hồi hương, tục đoạn, lộc nhung, sa nhân, cẩu tích, đương quy và hổ cốt mỗi vị 30g, thỏ ty tử 60g, đỗ trọng 60g, nhũ hương, long cốt và xuyên sơn giáp mỗi vị 20g.

  • Thực hiện: Đem các vị nghiền thành bột, chế với hồ làm thành viên. Mỗi lần dùng 3g uống với nước muối nhạt.

22. Bài thuốc trị đau mỏi xương khớp ở người cao tuổi

  • Chuẩn bị: Cam thảo 8g, tục đoạn, hà thủ ô đỏ, cốt toái bổ, đơn bì huyết giác, cẩu tích, ba kích, mộc qua, ngưu tất và sinh địa mỗi vị 12g.

  • Thực hiện: Đem sắc uống hằng ngày.

23. Bài thuốc giúp ôn bổ thận dương, trị chứng tiểu không tự chủ, tiểu tiện nhiều

  • Chuẩn bị: Bạch phục linh, ba kích, đỗ trọng, ích trí nhân, nhục thung dung, tỳ giải, hoàng kỳ, cẩu tích, lộc nhung, thỏ ty tử các vị bằng lượng nhau.

  • Thực hiện: Đem các vị tán thành bột mịn, trộn đều với hồ làm thành viên hoàn to bằng hạt ngô đồng lớn. Mỗi lần dùng 30 viên uống với rượu ấm.

24. Bài thuốc trị chứng đau thần kinh tọa, phong trúng vào kinh thận

  • Chuẩn bị: Tỳ giải, đỗ trọng, bạch linh và cẩu tích mỗi vị 40g, thiên hùng, hà thủ ô và trạch tả mỗi vị 20g.

  • Thực hiện: Đem các vị tán thành bột mịn, mỗi lần dùng 8g uống với nước cơm.

6- Cốt toái bổ

7- Đẳng sâm


8- Hoàng đằng

9- Hoàng liên ô rô

10- Hoàng tinh hoa đỏ

11- Hoàng tinh hoa trắng

12- Na rừng

13- Nam hoàng liên

14- Sâm Lai Châu

15- Sâm Lang bian

16- Sâm Ngọc Linh

17- Tắc kè đá

18- Tế tân

19- Thạch tùng răng cưa

20- Thổ hoàng liên

21- Thông đỏ lá dài

22- Thông đỏ lá ngắn

23- Vàng đắng

24. Ngưu tất 

Tên khoa học: Achyranthes bidentata

Tên gọi khác: Hoài ngưu tất, cây cỏ xước, có xước hai răng, cỏ sướt

Mô tả: Ngưu tất là loài cây lâu năm thường có chiều cao từ 70 – 120cm. Cụm rễ củ của cây có hình trụ, thon dài, có kích thước từ 0,6cm – 1cm mọc ra nhiều nhánh rễ phụ. Thân cây ngưu tất có màu xanh lục hoặc nâu tía, có các đốt trên thân phình lên giống như đầu gối chân trâu nên dân gian lấy tên cây dược liệu là Ngưu tất

Cây ngưu tất có tính ưa sang, ưa ẩm, cho nên cành thường mọc hướng thẳng đứng lên trên, các cành và lá mọc đối nhau, cuống lá có đường kính từ 5 – 22mm, Lá cây ngưu tất có hình bầu dục, mũi lá nhọn, dọc thân lá có hình gai, chiều dài từ 2 – 10cm, rộng từ 1 – 5cm

Hoa trong thời kỳ nở  ban đầu thường kích thước ngắn và mọc thành từng cụm, đến khi phát triển hoàn toàn sẽ có kích thước từ 15 – 20cm, thường nở vào khoảng từ tháng 7 cho đến tháng 9 và sẽ cho ra quả từ tháng 9 cho đến tháng 10 hằng năm

Bộ phận dùng: Lá, hạt, cuống, rễ

Moi trường sinh trưởng: Trong điều kiện tự nhiên, Ngưu tất thường mọc ở rìa rừng, bên cạnh bờ suối, khu vực có nhiều bụi cây. Cây có thể dễ dàng sinh trưởng và phát triển mạnh ở nơi có điều kiện thổ nhưỡng màu mỡ, có phủ cát và hơi có tính axit

Thu hái: Bộ phận chính của Ngưu tất thường được sử dụng là rễ cây, khoảng thời gian tốt nhất để thu hái là mùa Thu hoặc Đông, tuỳ theo nhiệt độ thời tiết tại thời điểm, vào thời điểm này, rễ cây ngưu tất đã co lại.

Khi tiến hành lấy rễ, tránh làm hư hại bộ rễ chính của cây, vặt bỏ những rễ phụ, rễ ngưu tất có thể dài từ 12 – 50cm, rửa sạch bùn đất. Sau khi đã thu hoạch xong, buộc ngưu tất thành từng bó đem phơi khô dưới ánh nắng cho đến khi lớp vỏ ngoài đã héo và quắt lại, xông lưu huỳnh 2 lần để làm mềm, cắt phần đầu rễ và đem phơi khô

Thành phần hoá học: saponin tritecpenoid (sau khi qua nước thủy phân thành oleanolic acid và đường), genin là acid oleanolic, các sterol ecdysteron, inokosteron, glucoza, polysaccharide, muối kali. ..Ngoài ra cây ngưu tất còn hàm chứa arginine (Arg), 12 lọai amino acid và alkaloids, hợp chất coumarins, và nguyên tố vi lượng sắt, đồng…

Tính vị: tính ôn, vị đắng và chua

Quy kinh: Vào các kinh can, thận

Công năng: Hoạt huyết thông kinh, cường gân cốt, bổ can thận

Chủ trị: Trị đau lưng, mỏi gối, mỏi gân xương, bế kinh, kinh nguyệt không đều, tăng huyết áp

25. Giảo cổ lam

Giảo cổ lam là loại cây dây leo có tác dụng giảm lượng đường và chloresteron trong máu, lưu thông khí huyết. Hơn nữa, giảo cổ lam có tác dụng làm giảm đau, hạ huyết áp, căng thẳng

Tên khoa học: Gynostemma pentaphyllum
Tên gọi khác: Cây trường sinh, cỏ thần kỳ, cỏ trường thọ, ngũ diệp sâm,
Mô tả:
Giảo cổ lam là loại cây dây leo, thân mỏng, có chiều dài các  phân đốt từ 6 – 10 cm, lá mềm toả ra như ngón tay, thông thường một cành có khoảng từ 3 – 9 lá (số lượng phổ biến vào khoảng 5 – 7 lá), sần sùi ở cả 2 mặt, màu xanh lục sậm ở mặt trên và nhạt hơn ở mặt dưới
Quả của giảo cổ lam khi còn non có màu trắng và khi chin có màu đen, đường kính từ 5 – 9mm, không ăn được
Giảo cổ lam là loài thực vật ưa ẩm, sinh trưởng chủ yếu ở môi trường có nhiệt độ ấm ở những vùng núi
Bộ phận dùng: Lá và cành non
Môi trường sinh trưởng: Cây mọc chủ yếu ở một số khu vực của châu Á như: Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc…
Thu hái: Cây được thu hái chủ yếu vào mùa hè, rửa sạch, phơi khô và cắt ngắn các đoạn thành 2 – 3cm sau đó có thể bảo quản bằng cách phơi hoặc sấy khô. Khi dùng, giảo cổ lam sẽ được sao vàng
Thành phần hoá học: Bao gồm các chất gốc sterols, saponin, flavonoids, and chlorophyll. Hiện tại qua quá trình kiểm nghiệm, Giảo cổ lam chưa ghi nhận chất độc nào tác động lên người
Tính vị: Vị đắng, ngọt, tính hàn.
Quy kinh: Vào kinh can, phế
Công năng: Thanh nhiệt giải độc, chi ho, trừ đờm
Chủ trị: Đợt cấp của viêm phế quản mạn tính, viêm gan virus, viêm thận, viêm dạ dày cấp, bệnh tiểu dường, chứng tăng mỡ máu.

26. Cà gai leo 

Cà gai leo chủ trị phong thấp, nhức đầu các gân xương, ho khan, ho gà, dị ứng, xơ gan, 
viêm nhiễm vùng miệng.

Tên khoa học: Solanum procumbens
Tên gọi khác: cà gai dây, cà vạnh, cà quýnh, cà lù, cà hải nam, cà quạnh, quánh, gai cườm
Mô tả: Cà gai leo mọc cao từ 1 – 2 mét, phân ra nhiều nhánh nhỏ, cây đến tuổi trưởng thành phát triển thêm các lông phân nhánh, thân và cành của cà gai leo có hình trụ có màu xanh nhạt, nâu xám hoặc vàng nâu mọc thêm nhiều gai uốn ngược có độ dài từ 2 – 4mm
Lá cà gai leo thuôn dài hoặc hình trứng ở trên các cành còn với lá ở dưới thân gốc có hình rìu hoặc hơi tròn, mặt trên sẫm, mặt dưới có nhiều lông tơ màu trắng, có gai ở gân chính, thể hiện rõ rất ở mặt trên của lá
Cây cà gai leo thường ra hoa vào khoảng từ tháng 04 – 09 sau đó tạo quả từ tháng 09 – 12, quả có màu đỏ, mọng bóng, đường kính từ 7 – 9mm, hạt bên trong có màu vàng nhạt, hình ovan hoặc hình elip có kích thước 3x2mm
Bộ phận dùng: Rễ, cành lá, quả
Môi trường sinh trưởng:
Cà gai leo là cây ưa sáng, có khả năng chịu hạn tốt, chịu ngập úng kém, có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau như: đất phù sa, đất pha cát, đất ba gian.
Là loại cây mọc hoang ở khu vực ven rừng, địa hình có độ cao dưới 300m, đây là loại thực vật bản địa sinh trưởng chủ yếu ở các nước như Lào, Campuchia, Trung Quốc, Việt Nam. Ở nước ta, cây phân bổ khắp các khu vực nhưng có thể dễ tìm thấy nhất ở Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Thanh Hoá, Nghệ An
Thu hái: Cành, lá và rễ của cây có thể được thu hái quanh năm phục vụ cho việc làm dược liệu nấu cao khô, cao nước, cao bột, cốm vị thuốc.
Cây sau khi được thu hái sẽ được sơ chế bằng việc rửa sạch, thái lát, phơi hoặc sấy khô để làm thuốc uống
Thành phần hoá học:  Ancaloid, tinh bột, saponozit, flavonozit solasodin, solasodinon, glycoalcaloid
Tính vị: Tính ấm, vị the, hơi có độc
Công năng: Phát tán, phong thấp, tiêu độc, trừ ho, giảm đau, cầm máu
Chủ trị: Phong thấp, nhức đầu các gân xương, ho khan, ho gà, dị ứng, xơ gan, viêm nhiễm vùng miệng.

27. Ý dĩ 

28. Xuyên tiêu 

29. Xuyên tâm liên 

30. Xuyên luyện tử 

31. Xuyên khung 

32. Xoan 

33. Xích thược 

34. Xá xị 

35. Xa tiền tử 

36. Xa sàng tử 

37. Xạ đen 

38. Xạ căn 

39. Vương bất lưu hành 

40. Vông vang 

41. Vông nem 

42. Viễn chí 

43. Uy linh tiên 

44. Uất kim 

45. Tỳ giải 

46. Tỳ bà diệp 

47. Tử uyển 

48. Tử tô 

49. Trúc nhự 

50. Trúc diệp 

51. Trư linh 

52. Cao quy bản 

53. Trinh nữ hoàng cung 

54. Tri mẫu 

55. Tre 

56. Trần bì 

57. Trâm bầu 

58. Trạch tả 

59. Trắc bạch diệp 

60. Toàn phúc hoa 

61. Toả dương 

62. Tô ngạnh 

63. Tô mộc 

64. Tô diệp 

65. Tiểu hồi 

66. Tiên mao 

67. Tiền hồ 

68. Tiên hạc thảo 

69. Thuyền thoái 

70.  Thuỷ phù liên 

71. Thương truật 

72. Thương nhĩ tử 

73. Thương lục 

74.  Thục địa 

75. Thông thảo 

Bộ Y tế cho biết, danh mục loài, chủng loại dược liệu quý, hiếm và đặc hữu phải kiểm soát được xây dựng trên nguyên tắc đảm bảo mục tiêu bảo vệ nguồn dược liệu quý, hiếm và đặc hữu trong tự nhiên; đảo đảm cơ sở khoa học và phù hợp với các quy định của pháp luật về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và phù hợp với thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.

https://duoclieuvietnam.com.vn/vi/shops/duoc-lieu/page-2/


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS